Thông tin truy cập
 
Số lượt truy cập : 36546
Khách trực tuyến : 2491
Thành viên trực tuyến : 2
 
Liên kết Website
Skip Navigation Links.





Sơ lược Giáo dục Thủy Nguyên thời phong kiến
02/06/2015 - 23:11

SƠ LƯỢC GIÁO DỤC HUYỆN THỦY NGUYÊN THỜI PHONG KIẾN

                                                                             Nguyễn Văn Hiếu

Từ xưa, cư dân cổ trên vùng đất Thủy Nguyên đã biết chế tác ra các công cụ lao động, hình thành các nghề truyền thống, lề lối, nghi lễ sinh hoạt của riêng mình, truyền dạy cho nhau từ thế hệ này qua thế hệ khác. Cứ như vậy, hình thức giáo dục sơ khai ra đời, gắn liền với quá trình tạo dựng cuộc sống, phát triển và mở mang cộng đồng.

Trong hơn một nghìn năm xâm lược và đô hộ nước ta, từ thế kỷ II (TCN) đến đầu thế kỷ X, các triều đại phong kiến phương Bắc đã thực hiện nhiều chính sách và biện pháp nhằm đồng hóa nhân dân ta như một số bộ tộc khác ở vùng Hoa Nam. Các thế hệ ông cha ta liên tục đứng lên đấu tranh giành độc lập dân tộc gắn liền với đấu tranh để bảo vệ, giữ gìn bản sắc văn hóa và tiếp thu có chọn lọc những tinh hoa văn hóa ngoại nhập phù hợp với đặc tính, tâm hồn Việt Nam, làm phong phú nền văn hóa truyền thống.

Từ khi xây dựng nền tự chủ cho đến cuối thế kỷ XIX, các triều đại phong kiến Việt Nam đều lấy chữ Hán làm văn tự chính thống và có thời kỳ sáng tạo ra chữ Nôm. Tuy nhiên, việc học và thi cử chủ yếu được thực hiện bằng chữ Hán. Nhà Lý mở khoa thi đầu tiên vào năm 1075, nhà Nguyễn mở khoa thi chữ Hán cuối cùng vào năm 1919. Suốt chiều dài lịch sử đó, giáo dục huyện Thủy Đường đã có những đóng góp đáng kể cho nền giáo dục Việt Nam. Nơi đây là vùng đất có truyền thống hiếu học, có nhiều người học hành đỗ đạt, cống hiến cho đất nước. Trong 185 khoa thi, huyện Thủy Đường có18 vị đỗ đại khoa, trong đó có 1 Trạng Nguyên, 6 Đệ nhị giáp tiến sĩ xuất thân (Hoàng Giáp), 10 người đỗ Đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân và 1 người đỗ Thái học sinh. Ngoài ra còn hàng trăm tiên hiền, hậu hiền có nhiều đóng góp cho quê hương, làng xã.

Giáo dục Thủy Nguyên dưới chế độ phong kiến chịu ảnh hưởng sâu sắc hệ tư tưởng Nho giáo ( Khổng giáo); bao gồm 4 vấn đề cơ bản là thế giới quan duy tâm, quan niệm về lịch sử, đạo đức và trị đạo. Những giá trị Nho giáo nay vẫn còn đậm nét trong nếp sống của người dân, tiêu biểu là xã Thủy Đường, Kiền Bái, Mỹ Đồng, Minh Tân, Liên Khê, Lưu Kiếm...

Giáo dục trong gia đình là hình thức giáo dục phổ biến, ông bà, cha mẹ luôn dạy dỗ cho con cháu các lễ nghĩa, quy tắc đạo đức, ứng xử trong gia đình và xã hội. Con trai được dạy dỗ trở thành trụ cột gia đình, ý chí lập thân, gánh vác việc lớn, tham gia các công việc của cộng đồng, làng xã. Con gái được dạy công, dung, ngôn, hạnh của nền giáo dục truyền thống, biết chịu đựng, biết hy sinh làm lụng vất vả để nuôi chồng, nuôi con ăn học thành tài. Con gái về nhà chồng khéo ăn ở được coi là " con nhà gia giáo".

Giáo dục trong nhà chùa cũng được thư tịch cổ và dân gian còn nhắc đến. Việc dạy dỗ con em nhân dân thời xưa thường giao cho các nhà sư. Thời Trần, chùa Mỹ Cụ, Chính Mỹ từng là trung tâm phật học nổi tiếng. Nơi đây, Vua Trần Nhân Tông, người sáng lập thiền phái Trúc Lâm, từng nhiều lần đến thuyết pháp, Nhà Vua còn huy động dân làng dựng trường học để dạy chữ Hán cho con em nhân dân trong vùng (1). Theo “ Tiểu sử thiền sư chùa Thanh Lãng” do sinh đồ Lê Tuấn Mậu soạn năm Đinh Dậu 1597: “ Cậu bé Lê Ích Mộc người làng Ráng, huyện Thủy Đường, phủ Kinh Môn, trấn Hải Dương thuở nhỏ được nhà chùa nuôi dạy, sau đi thi đỗ trạng nguyên. Truyền rằng: Sau khi từ quan về trí sĩ tại quê nhà, làng Ráng, Thanh Lãng, nhớ thuở hàn vi, Trạng Nguyên Lê Ích Mộc đã tu sửa, mở mang chùa Ráng lấy tên là Diên Phúc Tự, xây văn từ, văn chỉ, mở trường dạy học đào tạo nhân tài cho quê hương đất nước. Ông quan tâm đặc biệt đến việc dạy chữ cho học trò nghèo có tinh thần hiếu học. Nhờ tiếng tăm của Ông, học trò xa gần đến xin học rất nhiều, thậm chí từ vùng Kinh Môn, Đông Triều nghe tiếng thầy cũng sang xin học. Ngôi chùa Diên Phúc nhờ ông mà trở thành trung tâm giáo dục lớn của vùng. Ngoài ra, các chùa khác trong huyện cũng từng là những nơi dạy học, bốc thuốc chữa bệnh cho nhân dân.

Trường tư, lớp học của thầy đồ ở các làng xã được mở nhiều, đáp ứng phần đông nhu cầu học tập của con em nhân dân trong huyện thời phong kiến. Trường học Núi Lim ở Thôn Mỹ Cụ, xã Chính Mỹ là nơi dạy học, dạy thiền của Tuệ Trung Thượng sĩ thế kỷ 13. Trong dân gian còn lưu truyền về những lớp học của thầy đồ chủ yếu vào cuối Triều Nguyễn như thầy đồ Nguyễn Phú Nhận, hiệu Thục Sư ở tổng Hoàng Pha, lớp học của ông đồ Địa ở tổng Trịnh Xá, thầy đồ Nguyễn Hữu Kiểm, Lê Văn Hiệp ở tổng Kênh Triều, cụ đồ Nhất Tế (Nguyễn Quang Tế), cụ đồ Hương ở An Lư, cụ đồ Thứ Nhị, cụ đồ Đinh Khắc Tịch ở Tổng Phục Lễ, ông đồ Tam, cụ đồ Cựu Thục, cụ đồ Phe ở tổng Thượng Côi, các cụ đồ Liêm, Nguyễn Công Thục, Đỗ Khóa Sinh ( cụ đồ Tra), cụ Khóa Súy ( còn gọi là Khóa Ren) ở tổng Phù Lưu. Các lớp học dạy con em nhân dân, thường là con nhà khá giả trong các làng xã và vùng lân cận đến xin học. Lớp học đặt tại nhà thầy hoặc nhà dân.

 

Từ chỉ Quán Chiếng ở xã Kiền Bái

Trò đông hay ít tùy vào tiếng tăm của thầy. Cha mẹ học trò góp gạo, tiền nuôi thầy và gia đình thầy. Đồng thời, đến tết thầy vào dịp Tết Nguyên đán, Tết Đoan Ngọ và Tết cơm mới.

 Về trình độ, các lớp học của thầy đồ gồm: Lớp vỡ lòng – dạy đọc viết, Lớp tiểu tập – dạy viết câu đối, Lớp trung tập – hằng ngày trò nghe giảng sách, hằng tuần có buổi tập làm văn, Lớp đại tập – Trò học để tham gia vào các kỳ khoa cử.

Trường công là trường của Nhà nước. Tiêu biểu cho trường công thời phong kiến ở Kinh đô là Quốc tử giám được xây dựng vào năm Bính Thìn (1076) triều Vua Lý Nhân Tông, ngôi trường này được coi như cơ sở đầu tiên của nền giáo dục đại học nước ta. Từ thời Nhà Trần bắt đầu có ban chiếu về việc mở mang trường học; ở cấp tỉnh có trường đốc, cấp huyện có trường huấn; do vậy, từ thời Trần nền giáo dục Hán học ngày càng được củng cố và phát triển, Nho giáo được tôn sùng, việc học hành ở cấp huyện do các quan giáo thụ và giám thư khố phụ trách, còn ở cấp tỉnh do quan đốc học trông nom việc học nói chung. Tuy nhiên, ở huyện Thủy Đường xưa, Thủy Nguyên ngày nay, kể từ cuối triều Nguyễn trở về trước không lưu giữ được tài liệu sử học ghi chép về trường công trên địa bàn huyện.

Từ chỉ, văn chỉ được nhiều làng xã xây dựng thờ Khổng Tử và các bậc tiên hiền để tỏ lòng tri ân với những người khai sinh, phát triển nền văn hóa Nho học, đồng thời nhằm giáo dục truyền thống hiếu học, tôn sư trọng đạo của dân tộc. Mỗi Tổng thường có một từ chỉ hoặc văn chỉ, có văn bia ghi danh các vị khoa bảng, tiên hiền, hậu hiền. Đoạn văn bia tiền hiền làng Dưỡng Động ghi: “ Tiên hiền, hậu hiền là người có toàn tài văn võ, có khí tiết tháo, hoài bão kinh luân, thể không đầy đủ, dùng cũng không chu đáo, nói lấy làm phép, làm tắc nhưng rực rỡ như ngọc châu, ngọc cơ vậy”. Từ chỉ thường được xây dựng quy mô, có bệ thờ, nơi để tế lễ; từ chỉ còn là nơi dạy học, đàm đạo văn chương. Văn chỉ có bàn thờ, sân tế được đặt ở ngoài trời. Từ chỉ hàng huyện ở An Lư, tổng Thủy Đường, nơi đặt bia đá ghi danh các bậc chức sắc, tiên hiền của cả huyện, mười tám vị đỗ đại khoa của huyện Thủy Đường xưa cũng được ghi ở đây, nhà văn bia xưa có tới 30 tấm, ghi chép việc học hành đỗ đạt, ghi danh các bậc đỗ đại khoa, Tiên hiền, Hậu hiền của huyện, trải qua thời gian, việc bảo quản không tốt nay thất lạc gần hết, chỉ còn 2 văn bia trong đền An Bạch, thôn An Hồ. Từ chỉ tổng Dưỡng Động, tổng Phù Lưu là những từ chỉ lớn. Ở Kiền Bái, tổng Trịnh Xá có từ chỉ ông Quận và từ chỉ thờ Khổng Tử ( nay thuộc thôn 3). Năm 1947, thực dân Pháp chiếm đóng, phá hỏng các từ chỉ nói trên không còn dấu tích. Đặc biệt, từ chỉ Quán Chiếng được xây dựng vào khoảng đầu thế kỉ 19, do cụ Nguyễn Đăng Lập, người đứng đầu hội Giáp Ất – những người có chân trong khoa Giáp, có chức tước, thành đạt do học hành, thi cử của thôn Minh Chính xưa tổ chức xây dựng. Từ chỉ Quán Chiếng được khôi phục năm 2010. Đôi câu đối trong từ chỉ do cụ Nguyễn Đăng Lập ghi, muốn nhắn gửi đối với con cháu muôn đời phải  khổ công đèn sách mới có thể thành đạt, nên người:

Lập đức, lập công thùy bất hủ

Nhi kim, nhi hậu thọ kì truyền

Ở làng Lôi Động, tổng Hoàng Pha, nay là Hoàng Động có Văn chỉ do Hậu Tuất – quan nghị viên hàng tỉnh xây dựng, ghi danh những người có công với làng và những người học hành, đỗ đạt. Ở Trại Sơn, tổng Dưỡng Chân có bia tiên hiền ghi danh Hoàng Giáp Nguyễn Như Côn và các bậc tiên hiền khác. Từ Chỉ ở thôn Nam, tổng Phục Lễ xưa rộng hơn sào Bắc Bộ, xung quanh xây tường bao và có tam quan bề thế, bên trong đặt hàng chục tấm bia đá lớn nhỏ, khắc ghi những bậc tiên hiền đỗ đạt, những sự kiện lớn đã xảy ra tại làng và hàng tổng, từ chỉ đã bị chiến tranh tàn phá, thất lạc gần hết, số còn lại được chuyển về chùa Kiến Linh, Phục Lễ.

Bia Nhâm Tuất ghi danh Trạng Nguyên Lê Ích Mộc tại Văn Miếu ( Hà Nội)

Các bậc tri thức nho học, đại khoa huyện Thủy Nguyên thời phong kiến

Trong sách “ Lịch Triều hiến chương loại chí”, nhà sử học Phan Huy Chú viết : “ Thói quen sĩ phu phần nhiều mạnh dạn. Đỗ đạt thì có huyện Thủy Đường nhiều”. Trải qua thời gian dài, việc lưu trữ thư tịch, sách cổ bị thất lạc nên đến nay chưa thể phản ánh hết việc học hành, khoa bảng của tiền nhân thời phong kiến. Theo thần tích đình làng Phương Mỹ, Mỹ Đồng có ghi: Thời Đinh – Tiền Lê ở làng Hoa Chương huyện Thủy Đường có một gia đình họ Phạm sinh được một người con trai khôi ngô, tuấn tú, đặt tên là Phạm Quảng. Quảng chăm chỉ, thông minh, xuất chúng hơn người nên mọi người gọi là thần đồng. Năm 27 tuổi, Quảng vào kinh đô Hoa Lư ứng thí kén chọn người tài. Phạm Quảng được Vua Lê trao cho chức Tham tri chính sự và được làm việc trong triều.

Tổng Phục Lễ xưa là vùng đất có truyền thống hiếu học của huyện Thủy Đường. Theo bài minh bia “Trần Triều hiển thánh” ở đền An Lư thì vào thời Trần (1226 - 1400) Phục Lễ đã có người đỗ đạt cao như Đô úy sứ Nguyễn Tiên sinh, Hải Lâm Bá Đinh Tiên sinh, Thuần Lương Bá Nguyễn Tiên sinh, Cẩm Lục Hầu Nguyễn  Tiên sinh, Nghĩa Lục Hầu Nguyễn Tiên sinh; Phạm Hữu Chí đỗ tú tài khoa Nhâm Tý năm 27 tuổi, ông có công lao giúp Khâm sai đại thần Nguyễn Tri Phương quyên  góp binh lương giúp triều đình dẹp phản loạn, được vua Tự Đức ban tước Chánh Cửu Phẩm và tặng 4 chữ “Hiếu Nghĩa Khả Phong”. Cùng khóa với Phạm Hữu Chí còn tú tài Nguyễn Hữu Mỹ, tức Nguyễn Ngọc Hiên, Ông có công giúp Trương Quốc Dụng và quân triều đình chiến đấu được tặng một đôi đũa quý và một chiếc mũ lưu truyền cho con cháu. Ngoài ra, còn các bậc tiên hiền Nguyễn Văn Oanh, Phạm Văn Ngọc (1873- 1944), Nhất Nhầm, Phạm Văn Hạnh, Nguyễn Quang Tế.

Từ chỉ tổng Dưỡng Động có ghi danh 14 vị Tiên hiền. Trong đó, Dưỡng Động có 9 vị: Trưởng Lục Bộ Thượng Thư Vũ Tiên sinh, Đình Úy Nguyễn Tiên sinh, Thái Bảo Nguyễn Tiên sinh, Hiến Thành Hầu Nguyễn tiên sinh, Phương Mai Hầu Bùi tiên sinh, Phò Mã Bá Nguyễn Tiên sinh, Giám sinh Bột Phu Vũ Tiên sinh, Đồng Giang Hầu Vũ Tiên sinh, Giám sinh Bột Phu Vũ Tiên sinh. Tràng Kênh có 2 vị: Đồng Giang Hầu Vũ Tiên sinh, Thái Giám Phạm Tiên sinh. Gia Đước có 3 vị: Thái Thường Hầu Tiên sinh, Nho học Huấn đạo Đồng Tiên sinh, Tuần phủ Cẩm Lộc Bá Hoàng Tiên sinh. Ngoài ra còn 580 hậu hiền, gồm: Dưỡng Động 420 người, Tràng Kênh 129 người, Gia Đước 31 người.

Ở huyện Thủy Đường xưa có nhiều người đỗ đạt làm quan. Theo văn bia Tiên hiền bia ký và văn bia Thứ vị hiền triết khoa hương đang được lưu giữ tại đền An Bạch, xã An Lư ghi chép được 78 hiền tài thời phong kiến của 35 làng, xã trong  huyện. Lâm Động 6 người, Phả Lễ 5, Lưu Khê 5, Kiền Bái 4, Rãng Động 4, Mỹ Cụ 4, Phù Lưu 4, Thủy Đường 3, Quỳ Khê 3, Trúc Động 3, Du Lễ 3, Tả Quan 2, Phúc Liệt 2, Đoan Lễ 2, Nỗi Dương 2, Viên Khê 2, Trịnh Xá 2, Thụ Khê 2, Phù Liễn 2, Cao Kênh 2, Thái Lai 2, Thường Sơn 1, Phả Lễ 1, Trung Sơn 1, Huê Lăng 1, Bính Động 1, Hoàng Pha 1, Cao Kênh 1, Chiếm Sơn 1, Đồng Lý 1, Mai Động 1, Hoa Chương 1, Tràng Kênh 1, Mỹ Giang 1, Lôi Động 1.

Các nghiên cứu sử học đã khảo cứu được 18 bậc tri thức đỗ đại khoa trong thời Trần, thời Lê Sơ và thời Mạc. Ở các triều đại khác chưa tìm được thư tịch chứng minh. Người đỗ đầu là Trạng Nguyên Lê Ích Mộc – Trạng Nguyên khai khoa đầu tiên của Hải Phòng. Làng An Lư xưa có tới ba người đỗ khoa bảng. Làng Dưỡng Động (Minh Tân) là nơi có truyền thống khoa bảng, xưa làng có hai người đỗ tiến sĩ, làm quan. Có gia đình cả cha và con đều đỗ đại khoa là gia đình Trần Tông ở Hoa Động, gia đình Nguyễn Huân ở An Lư. Ba kỳ thi, mỗi kỳ có hai 2 người đỗ đại khoa được ghi tên trên bảng vàng. Đó là năm Quý Dậu 1453, năm Nhâm Tuất 1502 và năm Mậu Thìn 1508.

·        18 vị đỗ đại khoa thời phong kiến, xếp theo thời gian:

Thời Trần, 01 người đỗ đại khoa

1- Huyện Thủy Đường xưa có Hoàng Công người làng Câu tử, xã Hợp Thành thông minh hơn người, học hành tiến bộ, thi đỗ Thái học sinh.

Thời Lê Sơ, có 13 người đỗ đại khoa:

2- Năm Quý Dậu, 1453, niên hiệu Thái Hòa II, đời vua Lê Nhân Tông. Mùa xuân, tháng 2, Nhà Vua tổ chức thi hội, Dương Tông Hải người làng Mi Sơn, huyện Thủy Đường, nay là làng Mi Sơn, xã Ngũ Lão, đỗ Đệ nhị giáp tiến sĩ xuất thân (Hoàng Giáp). Ông làm quan đến chức Thị Lang. Ông vốn tên là Mỗi, khi vào thi Đình vua Lê Nhân Tông đổi tên cho ông là Hải (2).

  2- Năm Quý Dậu, 1453, niên hiệu Thái Hòa II, đời vua Lê Nhân Tông. Mùa xuân, tháng 2 Nhà Vua tổ chức thi hội, Nguyễn Thế Khoa, 19 tuổi, người làng Niêm Sơn, huyện Thủy Đường nay là làng Niêm Sơn, xã Kỳ Sơn đỗ Đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân. Ông làm quan đến chức Thái phó. Kỳ thi năm ấy huyện Thủy Đường có 2 người đỗ Tiến sĩ.

4- Năm Quý Mùi, 1463, niên hiệu Quang Thuận thứ 4, đời vua Lê Thánh Tông. Tháng 2, Nhà Vua tổ chức thi Hội các cử nhân trong nước. Năm ấy Nhà Vua  ra đề thi hỏi về việc trị đạo của các Đế Vương. Lưu Công Ngạn người làng Do Lễ, Tam Hưng có bài thi xuất sắc, đỗ Đệ nhị giáp tiến sĩ xuất thân ( Hoàng Giáp). Bắt đầu từ năm đó, Nhà Vua định lệ 3 năm thi Hội một lần.

5- Năm Đinh Mùi, 1487, niên hiệu Hồng Đức thứ 18, đời vua Lê Thánh Tông. Tháng 3, Nhà Vua tổ chức thi Hội. Đến mùa hạ, ngày mồng 7 tháng 4 tổ chức thi Đình, Vua đích thân ra đề văn sách hỏi về đạo trị nước. Năm ấy, Vũ Cảnh 26 tuổi, người làng Dưỡng Động, Minh Tân làm bài thi xuất sắc. Ông đỗ Đệ nhị giáp tiến sĩ xuất thân (Hoàng Giáp). Ông làm quan đến chức Thượng thư kiêm Đô ngự sử. Tác phẩm của Ông hiện còn 5 bài thơ chép trong Toàn Việt thi lục. Kỳ thi năm ấy cả nước có 3 người đỗ đầu, 30 người đỗ tiến sĩ xuất thân, 27 người đỗ đồng tiến sĩ xuất thân, được nhà Vua cho gọi vào công bố tại cửa Nhật Quang.

6- Năm Canh Tuất ,1490, niên hiệu Hồng Đức thứ 21, đời vua Lê Thánh Tông. Tháng 3, Nhà Vua tổ chức thi Hội, rồi thi Điện. Vua đích thân ra đầu đề văn sách. Nguyễn Cương Đạt người làng Trúc Động, huyện Thủy Đường, nay là thôn Trúc Động, xã Lưu Kiếm, đỗ Đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân. Ông làm quan đến chức Thông chính sứ. Kỳ thi năm ấy cả nước có 3 người đỗ Tiến sĩ cập đệ, 19 người đỗ Đệ nhị giáp tiến sĩ xuất thân, 32 người đỗ Đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân.

7- Năm Quý Sửu, 1493, niên hiệu Hồng Đức thứ 24, đời Lê Thánh Tông. Tháng 3, Nhà Vua tổ chức thi Hội các cử nhân trong nước. Mùa hạ, ngày 11 tháng 4 thi Đình. Vua đích thân đến hiên trường thi ra đầu bài văn sách. Vũ Trực Hành, 27 tuổi, người xã Yên Các, huyện Thủy Đường, nay là xã An Lư, huyện Thủy Nguyên làm bài thi xuất sắc. Ông đỗ Đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân, sau đó Ông làm quan đến chức Phủ doãn Phủ Phụng Thiên. Mùa thi năm ấy, cả nước có 3 người đỗ tiến sĩ cập đệ, 23 người đỗ Đệ nhị giáp tiến sĩ xuất thân, 22 người đỗ Đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân. Sau kì thi nửa tháng, ngày 27 tháng 4, Vua ban mũ đai, y phục; ngày 28 ban yến cho các vị đại khoa. Bộ Lễ đem bảng vàng treo ngoài cửa Đông Hoa. Mùa thu, ngày 19 tháng 8, Vua cho dựng bia đề tên các tiến sĩ khoa Quý Sửu trong Văn miếu Quốc tử giám.

8- Năm Kỷ Mùi, 1499, niên hiệu Cảnh Thống thứ 2, đời Lê Hiến Tông. Ngày 9 tháng 7, Nhà Vua tổ chức thi Điện. Năm ấy đầu bài văn sách hỏi về nhân tài và vương chính. Bùi Trạch Lân, 32 tuổi, người làng Cao Kênh, huyện Thủy Đường, nay là thôn Cao Kênh, Hợp Thành, đỗ Đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân. Ông làm quan đến chức Tham Chính. Mùa thi năm ấy, có 3 người đỗ đệ nhất giáp tiến sĩ cập đệ, 24 người đỗ đệ nhị giáp tiến sĩ xuất thân, 28 người đỗ đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân. Ngày 16 tháng 7, Vua ngự ở Điện kính thiên, Hồng lô tự ( chuyên về lễ nghi trong triều) truyền loa xướng danh các Tiến sĩ, Bộ Lễ đem bảng vàng treo ngoài cửa Đông Hoa. Đây là một kỳ thi được tổ chức hết sức nghiêm ngặt. Theo “Đại Việt sử ký toàn thư” của Ngô Sĩ Liên, trước kỳ thi 3 tháng, mùa hạ, tháng 4 năm 1499, Vua ra sắc dụ chấn chỉnh việc thi cử: " Nhân tài là nguyên khí của Nhà nước, nguyên khí mạnh thì trị đạo mới thịnh; khoa mục là đường chính của các quan, đường chính mở thì chân nho mới nhiều....Phép chọn nhân tài của tổ tông ta, bắt chước đời xưa mà làm, đến nay quy mô rộng lớn, đã kỹ lại đủ. Song phép lập từ lâu, đã sinh ra tệ, người thường tài lại đỗ, kẻ thực học lọt vòng, lời bàn bạc sôi nổi, lòng học trò chưa thỏa...Trường thi cần phải rộng rãi, trong chia làm bốn khu, đều ngăn bằng rào thưa và bốn góc tường đều làm một cái chòi; đến ngày vào trường, cắt nội thần hiệu úy mỗi chòi một người đứng trên chòi để trông nom...".

9- Năm Nhâm Tuất, 1502, niên hiệu Cảnh Thống, đời vua Lê Hiến Tông, huyện Thủy Đường có 2 người thi đậu. Tháng 2, Nhà Vua tổ chức thi Hội, Vua đích thân ra đầu bài văn sách hỏi về Đế Vương trị thiên hạ. Lê Ích Mộc, 45 tuổi, người làng Ráng, huyện Thủy Đường, nay là làng Thanh Lãng, xã Quảng Thanh làm bài thi xuất sắc, đỗ Đệ nhất giáp tiến sĩ cập đệ nhất danh (Trạng Nguyên). Ông làm quan đến chức Tả Thị Lang. Khi các tân khoa tiến sĩ làm lễ tạ ơn, Vua sai Ông tuyên đọc lời chế thư. Trạng Nguyên bưng lư hương đang đốt hương ra trước, bỏng tuột cả tay mà không biết. Vua ngự ở Điện kính thiên, Hồng lô tự truyền loa xướng danh các tân Trạng Nguyên và Tiến sĩ. Hằng năm bảng vàng vẫn treo ngoài cửa Đông Hoa, nhưng năm đó Vua sai Bộ Lễ nổi nhạc rước Bảng vàng đem treo ở cửa nhà Thái học. Bảng vàng treo ở cửa nhà Thái học bắt đầu từ đấy. Năm đó, số đi thi là 5000 người, 61 người có bài thi xuất sắc; trong đó 3 người đỗ đệ nhất giáp tiến sĩ cập đệ ( Lê Ích Mộc – Trạng Nguyên, Lê Sạn – Bảng nhãn, Nguyễn Văn Thái- Thám hoa), 24 người đỗ đệ nhị giáp tiến sĩ xuất thân, 34 người đỗ đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân.

10- Năm Nhâm Tuất, 1502, niên hiệu Cảnh Thống, đời vua Lê Hiến Tông. Tháng 2, thi Hội, ngoài Lê Ích Mộc đỗ Trạng Nguyên, còn có Nguyễn Như Côn, 22 tuổi, người làng Trại Sơn, huyện Thủy Đường, nay là thôn Trại Sơn, An Sơn đỗ Đệ nhị giáp tiến sĩ xuất thân (Hoàng Giáp). Ông làm quan đến chức Chánh đoán sự.

11- Năm Ất Sửu, 1505, niên hiệu Đoan Khánh thứ nhất, đời Lê Uy Mục. Nguyễn Huân, 27 tuổi, người làng Bình Lư, huyện Thủy Đường, nay là xã An Lư, đỗ Đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân. Ông làm quan đến chức Giám sát Ngự sử. Năm ấy, thi Hội 55 người đỗ, sau đó vào thi Đình để phân thứ bậc, 3 người đỗ Đệ nhất giáp tiến sĩ cập đệ, 16 người đỗ Đệ nhị giáp tiến sĩ xuất thân, 36 người đỗ Đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân.

12- Năm Mậu Thìn, 1508, niên hiệu Đoan Khánh thứ tư, đời vua Lê Uy Mục. Mùa xuân, tháng 2, Nhà Vua tổ chức thi Hội các cử nhân trong nước. Tô Kim Bảng người làng Tả Lan, huyện Thủy Đường, nay là làng Tả Quan, xã Dương Quan đỗ Đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân.  Ông làm quan đến chức Hiệu thảo Viện Hàn lâm. Mùa thi năm đó 3 người đỗ đệ nhất giáp tiến sĩ cập đệ, 15 người đỗ đệ nhị giáp tiến sĩ xuất thân, 36 người đỗ đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân.

13- Năm Mậu Thìn, 1508, niên hiệu Đoan Khánh thứ tư, đời vua Lê Uy Mục. Ngoài Tô Kim Bảng còn có Trần Tông ở Bính Động, Hoa Động đỗ Đệ nhị giáp tiến sĩ xuất thân (Hoàng Giáp). Ông làm quan đến chức Phó Đô Ngự sử, Nhập thị Kính diên.

14- Năm Tân Mùi, 1511, niên hiệu Hồng Thuận thứ 3, đời Vua Lê Tương Dực. Đào Khắc Cẩn, 35 tuổi người làng Mai Động, huyện Thủy Đường, nay là thôn Mai Động, xã Liên Khê đỗ Đệ nhị giáp tiến sĩ xuất thân (Hoàng Giáp). Ông làm quan ở Viện Hàn Lâm. Mùa thi năm ấy Vua hỏi về đạo trị nước xưa và nay. Năm đó tổng cộng có 47 người đỗ Tiến sĩ.

Thời Mạc 4 người đỗ đại khoa:

15- Năm Mậu Tuất, 1538, niên hiệu Đại Chính thứ 9, đời vua Mạc Thái Tông. Mùa xuân, họ Mạc mở khoa thi hội, Nguyễn Đạc, ( cha ông là Nguyễn Huân  đỗ tiến sĩ năm Ất Sửu, 1505) người làng Bình Lư, huyện Thủy Đường, nay là xã An Lư, đỗ Đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân. Ông làm quan đến chức Giám sát Ngự sử. Năm đó, 3 người đỗ tiến sĩ cập đệ, 8 người đỗ Đệ nhị giáp tiến sĩ xuất thân, 25 người đỗ Đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân.

16- Năm Kỷ Mùi, 1559, niên hiệu Quang Bảo thứ năm, đời vua Mạc Tuyên Tông. Mùa xuân, họ Mạc mở khoa thi Hội. Trần Quang Tá ở Bính Động, Hoa Động đỗ Đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân. Ông làm quan đến chức Tự Khanh. Cha Ông là Trần Tông đỗ Hoàng Giáp năm 1505. Mùa thi năm đó, 1 người đỗ tiến sĩ cập đệ, 4 người đỗ tiến sĩ xuất thân, 14 người đỗ đồng tiến sĩ xuất thân.

17- Cùng năm Kỷ Mùi, 1559, Lê Đình Tú, 30 tuổi, người làng Lôi  Động, huyện Thủy Đường, nay là làng Lôi Động, xã Hoàng Động đỗ Đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân. Ông làm quan đến chức Thượng thư Tước đường Quận công, từng đi sứ sang Nhà Minh.

18- Năm Nhâm Tuất, 1562, niên hiệu Quang Bảo thứ chín, đời vua Mạc Tuyên Tông. Nguyễn Lộc, 34 tuổi, người làng Dưỡng Động, huyện Thủy Đường, nay là thôn Dưỡng Động, xã Minh Tân đỗ Đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân, làm quan đến chức Phủ doãn Phủ Phụng Thiên. Năm đó, khoa thi hội 3 người đỗ tiến sĩ cập đệ, 5 người đỗ tiến sĩ xuất thân, 10 người đỗ đồng tiến sĩ xuất thân.

Ghi chú:       Chế độ thi cử thời Lê có các bậc thi Hương, thi Hội, thi Đình. Theo Lịch triều hiến chương loại chí, do Phan Huy Chú soạn: Năm Vĩnh Thịnh thứ 3 (1678), ban hành điều lệ thi hương. Ở khu vực phía Bắc (trong đó có xứ Hải Dương), cứ ngày 8 tháng 8 là trường nhất, ngày 18 là trường nhì, ngày 24 là trường ba, ngày 24 là trường tư. Năm Cảnh Trị thứ 2 (1664), định thể lệ thi hội. Hội thi sĩ nhân cả nước, ngày 16 tháng 3 vào trường nhất. Trường thi đặt ở trước sân điện Giảng Võ. Thi Đình được mở tại điện Kính Thiên (3), thực chất chỉ là một công đoạn của kỳ thi Hội, để phân loại tiến sĩ, trạng nguyên. Thi hội và thi đình cứ 3 năm tổ chức một lần xen kẽ với các năm thi Hương. Cứ năm trước thi Hương thì năm sau thi Hội. Như vậy, các năm Tý  Ngọ - Mão – Dậu thi hương thì các năm Thìn – Tuất – Sửu – Mùi sẽ thi Hội. Hai kỳ thi Hội và thi Đình diễn ra trong khoảng 8 tháng (Mùa xuân tháng giêng thi Hội, mùa thu tháng 8 năm ấy thi Đình). Thể lệ thi cử này ban hành từ thời Lê sơ, được duy trì ở các triều Mạc – Lê sau này.

      Danh hiệu cao nhất dành cho thí sinh tham gia khoa cử là danh hiệu tiến sĩ. Tiến sĩ có các bậc:

- Tiến sĩ cập đệ Đệ nhất giáp Đệ nhất danh (Trạng nguyên)

- Tiến sĩ cập đệ Đệ nhất giáp Đệ nhị danh (Bảng nhãn)

- Tiến sĩ cập đệ Đệ nhất giáp Đệ tam danh (Thám hoa)

- Tiến sĩ cập đệ Đệ nhị giáp, gọi chung là tiến sĩ xuất thân (Hoàng giáp)

- Tiến sĩ cập đệ Đệ tam giáp, gọi chung là Đồng tiến sĩ xuất thân. Ba  bậc đầu gọi là Tam khôi.

 

  Gửi tin phản hồi Gửi Email In bài viết
Ý kiến bạn đọc gửi
Tin tức này chưa có ý kiến nào
Các tin đã đưa
Sơ lược Giáo dục Thủy Nguyên thời phong kiến(02/06/2015 - 23:11)
Ngành Giáo dục và Đào tạo ba năm thực hiện Nghị quyết chuyên đề của Ban Thường vụ Huyện ủy Thủy Nguyên(02/06/2015 - 22:30)
Chiến lược phát triển giáo dục và đào tạo huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng đến năm 2020(23/04/2014 - 15:53)
Khai mạc Đại hội Công đoàn Giáo dục huyện Thủy Nguyên lần thứ XXVI(08/10/2012 - 10:47)
Nhân kỉ niệm 37 năm giải phóng hoàn toàn Miền Nam thống nhất đất nước ( 30/4/1975 – 30/4/2012): Tự hào về những Nhà giáo cựu chiến binh, Nhà giáo liệt sĩ ngành giáo dục huyện Thuỷ Nguyên(29/04/2012 - 10:55)
Trường Mầm non Lưu Kiếm tổ chức gặp mặt Gia đình nhà giáo nhân kỷ niệm 102 năm ngày Quốc tế Phụ nữ 8-3.(02/04/2012 - 11:15)
TRƯỜNG THCS LƯU KIẾM CHUẨN BỊ HOÀN THÀNH CÔNG TÁC KIỂM ĐỊNH CHẤT LƯỢNG(02/04/2012 - 10:08)
Tin hoạt động kỉ niệm Ngày Quốc tế Phụ nữ 8-3-2012.(19/03/2012 - 22:37)
Đội tuyển bóng đá ngành giáo dục huyện Thuỷ nguyên thắng đậm trên sân vận động Máy Tơ quận Ngô Quyền(13/03/2012 - 15:57)
Thông tư số 07 quy định xét tặng danh hiệu NGND-NGƯT(03/03/2012 - 21:22)
PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HUYỆN THUỶ NGUYÊN: Ra quan dau nam bang hoi thi giao vien gioi(02/03/2012 - 10:14)
TRƯỜNG THCS THUỶ ĐƯỜNG 50 năm xây dựng và trưởng thành(08/12/2011 - 20:47)
Chuyển trang    
Trang số:  1/2
Số bản ghi trên trang:







Tin mới
Sơ lược Giáo dục Thủy Nguyên thời phong kiến
Ngành Giáo dục và Đào tạo ba năm thực hiện Nghị quyết chuyên đề của Ban Thường vụ Huyện ủy Thủy Nguyên
Chiến lược phát triển giáo dục và đào tạo huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng đến năm 2020
Khai mạc Đại hội Công đoàn Giáo dục huyện Thủy Nguyên lần thứ XXVI
Nhân kỉ niệm 37 năm giải phóng hoàn toàn Miền Nam thống nhất đất nước ( 30/4/1975 – 30/4/2012): Tự hào về những Nhà giáo cựu chiến binh, Nhà giáo liệt sĩ ngành giáo dục huyện Thuỷ Nguyên
Trường Mầm non Lưu Kiếm tổ chức gặp mặt Gia đình nhà giáo nhân kỷ niệm 102 năm ngày Quốc tế Phụ nữ 8-3.
TRƯỜNG THCS LƯU KIẾM CHUẨN BỊ HOÀN THÀNH CÔNG TÁC KIỂM ĐỊNH CHẤT LƯỢNG
Tin hoạt động kỉ niệm Ngày Quốc tế Phụ nữ 8-3-2012.
Đội tuyển bóng đá ngành giáo dục huyện Thuỷ nguyên thắng đậm trên sân vận động Máy Tơ quận Ngô Quyền
Thông tư số 07 quy định xét tặng danh hiệu NGND-NGƯT
PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HUYỆN THUỶ NGUYÊN: Ra quan dau nam bang hoi thi giao vien gioi
TRƯỜNG THCS THUỶ ĐƯỜNG 50 năm xây dựng và trưởng thành
Trường THCS An Lư kỉ niệm 29 năm ngày Nhà giáo Việt Nam và biểu dương phong trào thi đua 2 tốt năm học 2010-2011
Giải cầu lông ngành giáo dục huyện Thủy Nguyên lần thứ 3: Sôi nổi, thân thiện, chất lượng
Điều lệ Giải cầu lông ngành giáo dục huyện Thủy Nguyên lần thứ 3, chào mừng ngày Nhà giáo Việt nam 20-11