Thông tin truy cập
 
Số lượt truy cập : 91452
Khách trực tuyến : 1689
Thành viên trực tuyến : 5
 
Nhân dân Thủy Nguyên với chiến thắng Bạch Đằng 1288
07/02/2013 - 10:30

Nhân dân Thủy Nguyên với chiến thắng Bạch Đằng 1288

Vào thế kỷ XIII, từ những thảo nguyên mênh mông vùng Trung Á, từng đoàn kỵ binh của đế quốc Mông Cổ cuốn theo cát bụi và máu lửa, ào ạt kéo sang phương Tây, phương Đông rồi phương Nam, gieo chết chóc và tàn hại hầu khắp châu Á, châu Âu. Hàng trăm thành thị lớn và kinh đô của nhiều nước bị phá hủy, hàng ngàn làng mạc bị đốt phá và san bằng, hàng triệu người bị giết hại. Trong vòng mấy chục năm đầu thế kỷ XIII, vua chúa Mông Cổ đã thành lập một đế quốc rộng lớn từ bờ Thái Bình Dương đến bờ Hắc Hải. Nửa thế giới kinh hoàng, lo sợ, ngập chìm trong đau thương. Phrích - một nhà thơ đương thời người Armenia (1210-1290) - đã viết những lời thơ lâm li về sự tàn ác của chúng:

“Không còn một dòng suối, một con sông nào không tràn đầy nước mắt chúng ta,
Không còn một ngọn núi, một cánh đồng nào không bị quân Tartar giày xéo”.

(Sử liệu Armenia về người Mông Cổ, dẫn theo Cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên - Mông thế kỷ XIII. -Hà Văn Tấn, Phạm Thị Tâm. - H: KHXH, 1972, tr.38, Tartar vốn là bộ lạc người Turks ở Mông Cổ, là lực lượng quan trọng trong quân đội viễn chinh của đế quốc này. Ở đây chỉ quân xâm lược Mông Cổ, chữ Hán là Thát Đát).

Thế nhưng vó ngựa và chiến thuyền của quân giặc cường bạo đó đã ba lần bị chặn đứng và bị đánh tan tác trận đất Đại Việt. Lịch sử xâm lược của đế quốc Mông - Nguyên đối với nước ta là lịch sử thất bại thảm hại. Và trận Bạch Đằng năm 1288 đã chôn vùi đạo quân cuối cùng, đập tan mưu đồ xâm lược của đế quốc cường thịnh và tàn bạo bậc nhất trong thời đại bấy giờ.

Ý chí quyết chiến quyết thắng, tinh thần dũng cảm và tài thao lược kiệt xuất của tổ tiên ta ở thế kỷ XIII đã viết nên trang sử chống ngoại xâm bất hủ mà chiến thắng Bạch Đằng được khắc sâu trong ký ức nhân dân như một chiến công thần thoại, một niềm tự hào chính đáng của dân tộc ta.

Theo tiếng gọi của Trần Quốc Tuấn, nhân dân các làng vùng sông Bạch Đằng và nhân dân trong toàn huyện Thủy Nguyên phối hợp với quân Trần khẩn trương đi vào một cuộc chiến đấu gian khổ và quyết liệt. Thóc gạo được chuẩn bị, sẵn sàng cung cấp cho quân đội, vũ khí được chế tạo thêm để trang bị cho dân binh, thuyền bè được tu sửa để sử dụng trên chiến trường sông nước. Đặc biệt trong trong chiến thắng ngày 8 tháng 4 trước trận chiến lịch sử Bạch Đằng 1288 một ngày đã có sự đóng góp rất to lớn của dân binh và nhân dân huyện Thủy Nguyên.

 Theo lịch sử, thì vào ngày 8 tháng 4 năm 1288, đội tiền vệ của địch do tướng Lưu Khuê chỉ huy đến đầu sông Giá. Chúng muốn thăm dò lực lượng quân ta và tìm đường rút lui an toàn, theo sông Giá ra Bạch Đằng. Đến Trúc Động, Lưu Khuê bị quân ta đón đánh (Trúc Động nay là một thôn thuộc xã Lưu Kiếm, trước kia là một tổng lớn gồm cả Liên Khê và Lưu Kiếm). Trúc Động có rừng núi hiểm trở, có sông Đá Bạc và sông Giá bao quanh, lại sát liền với dãy Tràng Kênh. Chính Trần Quốc Tuấn đã qua đây quan sát địa hình. Khi rút khỏi Vạn Kiếp, rời kinh thành Thăng Long, một bộ phận quân Trần đã về Trúc Động đóng giữ. Hai tháng trước ngày diễn ra trận đánh, Ô Mã Nhi và A Bát Xích đã bị đánh ở đây.

Trận Trúc Động là một trận phục kích diễn ra vào lúc ban đêm. Theo truyền thuyết địa phương thì trong trận này, quân ta tuy ít nhưng tìm cách nghi binh vừa chặn đánh vừa hư trương thanh thế lừa địch. Kế hoạch nghi binh được chuẩn bị chu đáo và thực hiện bằng nhiều hình thức phong phú. Trước đó, mỗi gia đình nộp cho quân đội nhiều mo cau có trát cơm và các bè chuối. Khi được tin giặc sắp kéo đến, quân ta đóng trên núi đã thay đổi quần áo và cờ lệnh năm lần với năm màu sắc khác nhau, lại thả rất nhiều mo cau và thân chuối trôi đầy sông. Đêm tối, đèn đuốc đốt sáng, chiêng trống rộn rịp. Đồng thời quân ta lại chẹn đánh phía trước và hai bên, tên bắn xuống như mưa gây nhiều thiệt hại cho địch. Địch tưởng quân ta đông, bố trí mai phục nhiều rất hoang mang lo sợ.

Trận Trúc Động là trận chặn địch bảo vệ cho trận địa Bạch Đằng. Trần Quốc Tuấn không cho địch lọt qua sông Giá. Vì nếu địch qua sông này thì lực lượng và trận địa bố trí của ta ắt bị lộ, thế chủ động bất ngờ sẽ không còn nữa. Mặt khác, quân ta còn phải kiềm chế không cho chúng tiến vào sông Bạch Đằng quá sớm, không đúng với thời gian đã định. Cũng theo các nhà nghiên cứu, nếu địch rút chạy theo đường sông Giá (Sông Đô Lý) ra cửa Nam Triệu thì sẽ nhanh hơn khi rút chạy trên sông Đá Bạc làm ảnh hưởng đến trận địa mai phục cọc ngầm mà quân ta đã bố trí vì trận địa cọc ngầm có thành công hay không là phải do con nước. Vì vậy, địch đến sớm hay muộn hơn thời gian dự kiến thì trận địa cọc ngầm sẽ không phát huy hết sức mạnh, không có chiến thắng ngày 8 - 4 thì sẽ không có chiến thắng Bạch Đằng lịch sử ngày 9 - 4.

Trải qua một ngày đêm chiến đấu với sự mưu trí và linh hoạt, quân dân Trúc Động đã đánh cho đội tiền vệ Lưu Khuê bị thất bại hoàn toàn. Chúng phải quay lại, theo dòng Đá Bạc xuôi xuống cùng đoàn thuyền Ô Mã Nhi.

Thắng lợi Trúc Động đã bảo vệ an toàn lực lượng của ta bố trí trên sông Giá, sông Thải và các dãy núi hai bên. Thắng lợi đó còn bảo đảm được bí mật của trận địa Bạch Đằng và buộc địch phải hành quân theo đúng đường và đúng thời gian đã quy định. (Truyền thuyết dân gian còn kề rằng, sau chiến thắng Bạch Đằng, Trần Quốc Tuấn đã trở về đây thăm trận địa cũ. Nhân dân vùng Trúc Động đã làm bữa cơm “quá lộ” (qua đường) để chúc mừng ông. Về sau, dân lập đền thờ và cứ đến ngày giỗ Trần Quốc Tuấn là lại làm cỗ “quá lộ”, bày một nậm rượu, ít đĩa cá, mời người qua đường ăn uống như diễn lại lễ đón chào Trần Quốc Tuấn và chiến sĩ chiến thắng trở về).

Trong trận chiến ngày 9-4, các đội dân binh và nhân dân Thủy Nguyên đã phối hợp với quân nhà Trần tổ chức phục binh trên dãy núi Tràng Kênh, lặn xuống sông sâu đục thuyền giặc (Mai Đình Nghiễm), đặc biệt là sự đóng góp của nhân dân Thủy Nguyên trong việc sử dụng hỏa công để đốt cháy các chiến thuyền địch bị trận địa cọc đâm thủng cọc đâm thủng, bị đắm, hoặc “bị mắc cạn không tiến lên được” (Nguyên sử. q.166, Trương Ngọc truyện.), chật nghẽn cả các cửa sông. Đúng lúc đó, các bè nứa thuyền nan chứa đầy chất dễ cháy giấu sẵn ở vùng Tràng Kênh, các làng Do Lễ, Phục Lễ, Phả Lễ được các đội dân binh nổi lửa đốt cháy và thả xuôi dòng nước lao nhanh vào giữa các thuyền giặc đang hỗn loạn, tắc nghẽn trước các hàng cọc. Nhiều chiếc thuyền giặc bắt lửa ngùn ngụt bốc cháy, thiêu sống những tên giặc trên thuyền. Ngọn lửa hỏa công dữ dội và gây ấn tượng mạnh mẽ đến nỗii ngày nay nhân dân địa phương vẫn còn lưu truyền lại bài thơ, trong đó có câu:

Bạch Đằng nhất trận hỏa công,

Tặc binh đại phá, huyết hồng mãn giang.

Nghĩa là:

Bạch Đằng một trận hỏa công,

Đại phá quân giặc, máu hồng đầy sông.

Thần tích các làng và gia phả một số dòng họ vùng Bạch Đằng còn kể nhiều thành tích đánh giặc của nhân dân địa phương. Ở Phả Lễ, Phục Lễ (Thủy Nguyên, Hải Phòng) có hai anh em Trần Hộ, Trần Độ chỉ huy dân làng lập thành đội dân binh ngày đêm luyện tập trên sông. Dân trang Đoan Lễ (xã Tam Hưng, Thủy Nguyên) do Lý Hồng đứng đầu rèn giáo mác theo Trần Quốc Tuấn đánh giặc. Vũ Nguyên, người trang Do Lê (xã Tam Hưng, Thủy Nguyên) nhà rất nghèo làm thuê nuôi mẹ, nhưng sức khỏe hơn người, có nhiệt tình yêu nước. Ông đã tạm biệt mẹ già, động viên dân làng theo Hưng Đạo Vương tham gia chiến đấu (Theo Thần phả thành hoàng các làng Phả Lễ, Đoan Lễ, Do Lễ (đều thuộc huyện Thủy Nguyên, Hải Phòng)). Tộc phả họ Vũ Đình (xã Minh Tân, Thủy Nguyên) ghi rõ ông tổ họ này là Vũ Đại đứng đầu một đạo dân binh đặt dưới quyền chỉ huy của hoàng tôn Trần Quốc Bảo bố trí mai phục ở dãy núi đá ven sông. Nhiều nguời dân làng Tràng Kênh tham gia làm thông tin liên lạc cho quân đội, trong đó có ông Lủi, bà Lủi người địa phương được giao làm công việc như chiến sĩ truyền tin ở mặt trận. Sở dĩ gọi họ là Lủi vì công việc liên lạc đưa tin và truyền lệnh đòi hỏi phải nhanh chóng và bí mật, phải len lỏi theo đường tắt, trèo đá xuyên rừng vất vả (Hồ sơ khảo sát chiến thắng Bạch Đằng  năm 1969, tư liệu khoa Sử, Đại học Tổng hợp Hà Nội).

Ngày nay trên mảnh đất Thủy Nguyên lịch sử còn lưu giữ nhiều dấu tích gắn liền với trận chiến Bạch Đằng 1288, còn đó những địa danh, sự tích Trúc Động, Tràng Kênh, Lưu Kiếm, Lưu Kỳ, Hang Lương, Áng Hồ… gắn liền với chiến công của quân và dân nhà Trần vào những năm cuối thế kỷ XIII. Trên địa bàn toàn huyện còn lưu truyền rất nhiều các sự tích, nhiều nơi phụng thờ các danh tướng, những dân binh Thủy Nguyên đã có nhiều công trạng tiêu biểu như: Rất nhiều địa phương phụng thời thờ Quốc công Tết chế Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn và tổ chức lễ hội lớn vào ngày 20-8 âm lịch (ngày hóa của Đức thánh Trần Hưng Đạo); tướng quân Trần Quốc Bảo, Phạm Hữu Điều, Vũ Nạp được thờ phụng tại vùng đất Tràng Kênh- Bạch Đằng; Hưng Trí Vương Trần Quốc Hiện, Hưng Vũ Vương Trần Quốc Nghiễm tại vùng An Lư, Trung Hà; Trần Hộ, Trần Độ được phụng thờ tại các địa phương Phục Lễ, Lập Lễ, Phả Lễ, Thủy Triều; Vũ Nguyên tại vùng Tam Hưng; Đô úy Thượng phẩm đại liêu Lại Thanh tại xã Thủy Đường, Mai Đình Nghiễm tại xã Phục Lễ...

            Là một địa phương có truyền thống lịch sử hào hùng, trong những năm qua, Đảng bộ, chính quyền, quân và dân huyện Thủy Nguyên luôn quan tâm đến công tác bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa. Nhiều di tích được trùng tu, tôn tạo, tu bổ, nhiều lễ hội truyền thống và diễn xướng dân gian được phục dựng trong đó có các di tích liên quan đến chiến thắng Bạch Đằng 1288. Đặc biệt ngày 24/10/2012, Ban Chấp hành Đảng bộ huyện đã ban hành Nghị quyết số 26-NQ/HU về bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa huyện Thủy Nguyên. Nghị quyết đã nhấn mạnh việc xây dựng đề án tổ chức Lễ hội Chiến thắng Bạch Đằng là lễ hội cấp huyện nhằm thể hiện đạo lý “uống nước nhớ nguồn”, khơi dậy niềm tự hào về truyền thống lịch sử hào hùng của dân tộc và nhân dân huyện Thủy Nguyên./.

Ảnh: sưu tầm
Phòng VH&TT TH

  Gửi tin phản hồi Gửi Email In bài viết
Ý kiến bạn đọc gửi
Tin tức này chưa có ý kiến nào