Thông tin truy cập
 
Số lượt truy cập : 91452
Khách trực tuyến : 1706
Thành viên trực tuyến : 1
 
Đảng bộ và nhân dân huyện Thủy Nguyên với Cách mạng tháng Tám năm 1945
13/09/2013 - 09:27

Đảng bộ và nhân dân huyện Thủy Nguyên với Cách mạng tháng Tám năm 1945

Thủy Nguyên nằm ở phía Bắc thành phố Hải Phòng; là huyện có vị trí chiến lược về an ninh quốc phòng. Với vai trò là vùng phên dậu phía Đông Bắc của tổ quốc, nơi đây đã chứng kiến nhiều sự kiện quan trọng trong lịch sử dân tộc. Tinh thần đoàn kết cộng đồng đã làm nên bản lĩnh của người dân Thủy Nguyên quyết không khuất phục trước kẻ thù xâm lăng, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh cho nền độc lập, tự chủ của dân tộc; đó là bản sắc quý báu được hun đúc và rèn luyện qua hàng ngàn năm lịch sử. Quá trình đấu tranh xây dựng và bảo vệ tổ quốc đã ghi nhận nhiều đóng góp của nhân dân huyện Thuỷ Nguyên trong các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm, tiêu biểu là chiến thắng trên sông Bạch Đằng vào các năm 938, năm 981 và năm 1288. Bước sang đầu thế kỷ XX, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, nhân dân Thủy Nguyên đã anh dũng, kiên cường chiến đấu, lập nhiều chiến công góp phần vào thành công chung của cuộc Cách mạng tháng 8/1945 tại Hải Phòng.

Năm 1858 thực dân Pháp xâm lược Việt Nam, hưởng ứng phong trào Cần Vương, nhân dân Thủy Nguyên đã trực tiếp tham gia và che chở, đùm bọc các nghĩa quân của Cuộc khởi nghĩa Đốc Tít vào cuối thế kỷ XIX; thực dân Pháp đã nhiều lần hoang mang, khiếp sợ trước những trận đánh “xuất quỷ nhập thần” của nghĩa quân từ Khu căn cứ Trại Sơn (nay thuộc Làng Văn hóa Trại Sơn, xã An Sơn, huyện Thủy Nguyên).

Bước sang những năm đầu của thế kỷ XX, phong trào yêu nước ở Thủy Nguyên hầu hết là hướng theo phong trào yêu nước của các cụ Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Hoàng Hoa Thám… Những năm 1927-1930, phong trào đấu tranh của tổ chức Quốc dân Đảng do Nguyễn Thái Học lãnh đạo đã ít nhiều gây được những tiếng vang; theo đó một số thanh niên Thủy Nguyên hăng hái nhiệt tình trực tiếp tham gia như Vũ Đình Anh ở Dưỡng Động (xã Minh Tân ngày nay), Bùi Tống Thủy ở Câu Tử (xã Hợp Thành ngày nay). Họ tham gia với ý thức đánh đuổi thực dân Pháp giành độc lập dân tộc. Bên cạnh đó, tại huyện cũng đã xuất hiện nhiều cuộc đấu tranh tự phát của nhân dân chống lại ách cường quyền, áp bức của thực dân, phong kiến như: sự kiện nhân dân chống lính Đoan (lính làm nhiệm vụ thu thuế) ở An Lư, lính kiểm lâm về bắt rượu, bắt gỗ ở Kênh Giang… khiến thực dân và bè lũ phong kiến tai sai nhiều lần hoàng sợ; tuy nhiên những cuộc đấu tranh đơn lẻ, tự giác này cũng nhanh chóng thất bại.

Ngày 03/02/1930, Đảng Cộng sản Việt Nam được thành lập; đây là bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử dân tộc Việt Nam. Giai đoạn này, nhiều tài liệu, sách báo tiến bộ cũng được thủy thủ người Hải Phòng nói chung, người Thuỷ Nguyên nói riêng đưa từ nước ngoài về đã đưa thành phố và huyện; Thủy Nguyên cũng đã trở thành một cầu nối giữa 2 trung tâm có phong trào công nhân phát triển mạnh mẽ là Hải Phòng và Hòn Gai. Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản mà dấu mốc là sự kiện thành lập Chi bộ Đảng Cộng sản đầu tiên của huyện Thuỷ Nguyên tại Dưỡng Động (nay là xã Minh Tân) vào năm 1940, phong trào chống Pháp của huyện có bước chuyển quan trọng, đi từ đấu tranh tự phát sang đấu tranh tự giác và có tổ chức.

Những năm 1930-1931, cao trào Xô Viết Nghệ - Tĩnh nổ ra tuy chỉ tồn tại trong thời gian ngắn nhưng đã có ảnh hưởng nhất định đến các phong trào yêu nước tại Thủy Nguyên. Tại huyện đã có tổ Nông hội đỏ ở vùng ven sông Cấm, một trong những thành viên nòng cốt của Mặt trận Phản đế đồng minh (tổ chức tiền thân của Mặt trận Dân tộc thống nhất và Mặt trận Tổ Quốc Việt Nam ngày nay). Trong phong trào dân chủ 1936-1939, phong trào yêu nước ở Thủy Nguyên tiếp tục phát triển với việc hình thành các hội ái hữu nghiệp đoàn dưới hình thức công khai, hợp pháp. Tổ chức thanh niên dân chủ, thanh niên phản đế cũng được hình thành ở Dưỡng Động, Núi Đèo và một số vùng khác trong huyện. Qua phong trào, Thủy Nguyên có một số thanh niên tiêu biểu như: Nguyễn Phú Thập (sau này là Bí thư Chi bộ Đảng Dưỡng Động - Minh Tân), Nguyễn Phú Vang, Vũ Văn Tuệ, Đỗ Đức Thiệm ở Dưỡng Động; Nguyễn Hồng Chương (tức Chính) ở Núi Đèo; Bùi Văn Cật ở Hoa Động; Bùi Tống Thủy ở Hợp Thành… đã trở thành cán bộ của phong trào Mặt trận dân chủ và đặc biệt có người đã được kết nạp vào Đảng Cộng sản.

Tháng 9/1940, Nhật đổ quân vào Đông Dương, Pháp nhượng bộ đầu hàng Nhật; từ đây, Nhật và Pháp cùng ra sức bóc lột nhân dân ta và chống phá cách mạng. Sau cuộc khủng bố Chi bộ Dưỡng Động năm 1941, Pháp - Nhật còn gây ra nhiều vụ khác như: khám xét, bắt bớ ở Dương Quan, chùa Hoa Động, An Ninh (An Sơn), Trịnh Xá… Thái độ tàn bạo của kẻ thù càng làm gia tăng ý chí căm thù giặc và tinh thần tranh của nhân dân trong huyện. Trong giai đoạn này, các cán bộ Đảng, cán bộ Mặt trận phản đế đã chủ động lui vào hoạt động bí mật, kiên trì đấu tranh, tuyên truyền giác ngộ nhân dân xây dựng lực lượng chờ thời cơ vùng lên.

Tháng 02/1941, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc về nước trực tiếp chỉ đạo cách mạng Việt Nam. Tháng 5/1941, Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ VII đã quyết định thành lập Mặt trận Việt Minh độc lập đồng minh (gọi tắt là Mặt trận Việt Minh) với chức năng quy tụ các tầng lớp nhân dân cùng đánh đuổi giặc Pháp – Nhật, làm cho nước Việt Nam hoàn toàn độc lập.

Ở Thủy Nguyên, trong những năm 1942-1944 có một số đồng chí từ nhà tù đế quốc trở về và một số cán bộ Việt Minh từ nơi khác đến hoạt động đã kết hợp với cơ sở quần chúng yêu nước trong huyện, từ đó gây dựng lên phong trào Việt Minh như ở Phương Mỹ, Phục Lễ, Hà Phú, Dưỡng Động, Trung Mỹ và Tả Quan. Các nhóm cách mạng hình thành do Bùi Bá Ngôn, Trương Đức Dược, Hoàng Ngọc Lương, Phạm Văn Duyệt, Đỗ Đức Thiệm, Vũ Văn Tuệ… phụ trách; mỗi cơ sở đều đẩy mạnh giác ngộ lòng yêu nước, ý chí căm thù giặc ngoại xâm trong quần chúng nhân dân; đồng thời chú trọng xây dựng lực lượng các đoàn thể như Thanh niên, Phụ nữ, Nông dân và Tự vệ…, đặc biệt ở Dưỡng Động các tổ chức cứu quốc do Chi bộ Đảng lãnh đạo.

Lực lượng tham gia Mặt trận Việt Minh Thủy Nguyên lúc này bên cạnh những đồng chí lãnh đạo có giác nhộ sâu sắc về đường lối cách mạng của Đảng như Hoàng Ngọc Lương, Bùi Bá Ngôn, Đỗ Đức Thiệm, Trương Đức Dược, Phạm Văn Duyệt… còn có những thanh niên hăng hái nhiệt tình sẵn sàng hy sinh vì sự nghiệp cách mạng, họ có nguồn gốc xuất thân từ nhiều tầng lớp xã hội khác nhau như tăng ni, thanh niên, giáo chức và cả con em những gia đình giàu có, tiến bộ như ông Bá Viện (ở Câu Tử, xã Hợp Thành), ông Bá Hoan (ở Trinh Hưởng, xã Thiên Hương), ông Bá Thông (ở Phi Liệt, xã Lại Xuân), ông Chánh tổng Hợp (ở Phục Lễ)… Đặc biệt một số nhà sư Thủy Nguyên không chỉ tham gia Mặt trận Việt Minh mà còn giữ vai trò lãnh đạo nòng cốt như nhà sư Lương Ngọc Trụ (chùa Phương Mỹ, xã Mỹ Đồng), Nguyễn Văn Hoan – sư Sẹo (chùa Hạ Côi, xã Kỳ Sơn) và Đỗ Thị Hồng Yễn (chùa Vĩnh Am, xã An Lư).

Những năm cuối 1944, đầu 1945, dưới 2 tầng bóc lột của thực dân Pháp và phát xít Nhật, nhân dân lại bị mất mùa dẫn đến nạn đói năm Ất Dậu làm hơn 2 triệu đồng bào ta bị chết đói. Ở Thủy Nguyên nạn đói làm chết trên 5 ngàn người, khiến lòng căm thù thực dân, phát xít của nhân dân ta càng bị đẩy lên cao. Ngày 09/3/1945, Nhật đảo chính Pháp, hưởng ứng lời kêu gọi của Ban Thường vụ Trung ương Đảng “Nhật Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”, phong trào đấu tranh cách mạng lan rộng trên khắp địa bàn huyện Thủy Nguyên. Các tổ chức cách mạng đã đẩy mạnh công tác vận động, tuyên truyền thu hút đông đảo lực lượng quần chúng tham gia các đoàn thể Việt Minh; tích cực rèn luyện dao kiếm, mua sắm vũ khí đánh đuổi phát xít Nhật. Lúc này, Mặt trận Việt Minh ở Thủy Nguyên đã phát triển nhanh chóng, không còn bó hẹp ở một vài điểm làng, xã mà phát triển thành từng vùng rộng lớn như: vùng Thượng huyện từ Phương Mỹ đến Phi Liệt, Doãn Lại, Hoàng Động, Hoa Động, Lâm Động, Tân Dương, Dương Quan; vùng Phục Lễ gồm cả Phả Lễ, Phục Lễ, Lập Lễ, Tam Hưng; vùng Trung Mỹ theo dọc tuyến đường từ An Lư, Trung Hà đến Ngũ Lão; vùng Dưỡng Động bao gồm Minh Tân, Lưu Kiếm, Liên Khê lan sang Hà Phú, Thủy Đường. Các vùng đều đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giác ngộ quần chúng tham gia Mặt trận Việt Minh; bên cạnh đó là các hoạt động cảnh cáo bọn cường hào, ác bá, trừ khử những Việt gian phản động chống phá cách mạng như tên Hải Ấn tay sai của Nhật ở chùa Trịnh Xá, tên Chánh tổng ở Dưỡng Động, tên Lý trưởng ở Hạ Côi và một số tên tay sai khác ở Thanh Lãng, Tả Quan, Hữu Quan… Đồng thời ngăn chặn bọn hào, lý đang thu thuế nộp thóc cho Nhật để giải quyết nạn đói đang diễn ra. Mặt trận Việt Minh cũng đẩy mạnh việc cứu tế xã hội, vận động các nhà giàu và các hương lý xuất quỹ công nấu cơm, nấu cháo phát chẩn cho người nghèo đói.

Đặc biệt, Mặt trận Việt Minh vùng Phục Lễ (do đồng chí Bùi Bá Ngôn) chỉ đạo kết hợp với Mặt trận Việt Minh vùng Trung Mỹ (do đồng chí Trương Đức Dược tức Trần Hồng Việt) chỉ đạo đã lãnh đạo nhân dân vùng Phả Lễ, Phục Lễ, Lập Lễ, Tam Hưng và Trung Mỹ, Kinh Triều đem theo gồng gánh, thúng mủng có đội tự vệ làm nòng cốt đến mở kho thóc của chủ đồn điền Nguyễn Thừa Đạt (Phán Đạt), chia hàng chục tấn lương thực cho dân nghèo.

Mặt trận Việt Minh vùng thượng huyện do đồng chí Hoàng Ngọc Lương (tức Hoàng Thiếu Minh) chỉ đạo đã chặn bắt những thuyền địch chở lương thực, vũ khí cho Nhật trên sông Kinh Thầy đem vào Đông Triều xây dựng chiến khu.

Trong bối cảnh khí thế cách mạng lên cao, vào tháng 7/1945, Đệ tứ chiến khu Đông Triều (chiến khu Trần Hưng Đạo) được thành lập đã thúc đẩy phong trào Việt Minh ở Thủy Nguyên phát triển mạnh mẽ, hoạt động hiệu quả đã làm tan rã chính quyền của địch ở nhiều làng xã.

Ngày 24/7/1945, Mặt trận Việt Minh vùng thượng huyện bí mật bất ngờ đột nhập huyện đường Trịnh Xá tước khí giới của binh lính địch. Ngày hôm sau tri huyện về thấy sự tình liền đệ trình cấp trên và xin cấp lại vũ khí chống Việt Minh. Số vũ khí này gồm 15 khẩu súng trường; sau được Tri huyện Nguyễn Quang Tạo đem nộp cho cách mạng thể hiện tinh thần giác ngộ của Tri huyện và hiệu quả công tác tuyên truyền, giáo dục của cách mạng.

Cũng trong khoảng thời gian này, tổ chức Việt Minh ở Phục Lễ đã tước khí giới địch ở huyện lị Cát Hải; tổ chức Việt Minh vùng Dưỡng Động tước khí giới địch và giành chính quyền ở huyện Yên Hưng, tỉnh Quảng Yên (thuộc Quảng Ninh ngày nay); Mặt trận Việt Minh vùng Trung Mỹ đẩy mạnh việc giải truyền đơn, áp phích và tuyên truyền vũ trang khởi nghĩa ở nhiều làng xã.

Ngày 15/8/1945, Nhật tuyên bố đầu hàng quân Đồng Minh vô điều kiện, đó là thời cơ có một không hai của cách mạng nước ta, theo đó không khí khởi nghĩa giành chính quyền sôi sục, khẩn trương trong cả nước.

Hưởng ứng lệnh tổng khởi nghĩa của Đảng, Mặt trận Việt Minh ở Thủy Nguyên đã đẩy mạnh công tác đồng triện, bằng sắc giải tán chính quyền địch ở các tổng xã. Vùng thượng huyện, Phục Lễ, Trung Mỹ và Dưỡng Động đều thành lập Ủy ban cách mạng lâm thời; Ủy ban cách mạng lâm thời ở mỗi khu vực đều ra lời kêu gọi nhân dân phát triển lực lượng vũ trang, tích cực rèn khí giới, mua sắm vũ khí chuẩn bị khởi nghĩa giành chính quyền huyện.

Tổ chức thanh niên ở Trung Hà do Nhật thành lập ra nhưng bị ta nắm và điều khiển nên đã chuyển sang làm việc cho cách mạng. Bọn tổng lý sợ hãi nhanh chóng đem nộp đồng triện cho Việt Minh và xin được tham gia ủng hộ cách mạng. Các tầng lớp, giai cấp, các tôn giáo... đều ủng hộ Mặt trận Việt Minh đánh đuổi Pháp, Nhật giành độc lập dân tộc.

Ngày 17/8/1945, Mặt trận Việt Minh đã huy động nhân dân kéo về huyện lỵ Trịnh Xá dự mít tinh chứng kiến sự sụp đổ của chính quyền thực dân phong kiến. Tri huyện Nguyễn Quang Tạo đã nộp toàn bộ số sách, vũ khí cho chính quyền cách mạng. Nhân dân huyện tuần hành biểu dương lực lượng suốt từ Trịnh Xá đến An Lư, Trung Hà, vừa đi vừa hô vang các khẩu hiệu: “Đả đảo Nhật - Pháp”, “Ủng hộ Việt Minh”, “Cách mạng thành công muôn năm”, “Việt Nam hoàn toàn độc lập”...

Đúng 8 giờ sáng ngày 22/8/1945 theo kế hoạch đã định hàng vạn nhân dân Thủy Nguyên đội ngũ chỉnh tề theo các đoàn thể Thanh niên, Phụ nữ, Thiếu nữ, nghề nghiệp, tôn giáo giương cao lá cờ đỏ sao vàng, biểu ngữ, khẩu hiệu cách mạng… kéo về sân vận động Rực Liễn (thuộc xã Thủy Sơn ngày nay) để dự mít tinh chào mừng thắng lợi của Cách mạng tháng Tám và Lễ ra mắt của Ủy ban cách mạng lâm thời huyện. Ủy ban do đồng chí Hoàng Ngọc Lương làm Chủ tịch; đồng chí Bùi Bá Ngôn làm Phó Chủ tịch; đồng chí Trương Đức Dược làm Bí thư huyện bộ Việt Minh; đồng chí Phạm Văn Duyệt làm Ủy viên Tài chính; đồng chí Phạm Văn Ngự làm Ủy viên Tư pháp; đồng chí Đoàn Yểng làm Ủy viên Quân sự; ông Nguyễn Quang Tạo, nguyên Tri huyện Thủy Nguyên được làm Ủy viên, cố vấn hành chính.

Đến ngày 23/8/1945, nhân dân huyện Thủy Nguyên cùng với lực lượng cách mạng đã sang Hải Phòng dự Lễ mít ting tại Nhà hát thành phố chào đón chính quyền cách mạng ra đời và đánh dấu cuộc tổng khởi nghĩa giành thắng lợi tại Hải Phòng.

Với thắng lợi của Cuộc cách mạng tháng Tám, nhân dân ta đã dập tan xiềng xích nô lệ của thực dân Pháp trong gần một thế kỷ, chấm dứt sự tồn tại của chế độ quân chủ chuyên chế gần một nghìn năm, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Dân tộc Việt Nam bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội. Nhân dân huyện Thủy Nguyên nói riêng và nhân dân Việt Nam nói chung từ vị trí của người dân nô lệ, mất nước trở thành vị trí của những người làm chủ hoàn toàn đất nước./.

Phòng VH&TT Tổng hợp

  Gửi tin phản hồi Gửi Email In bài viết
Ý kiến bạn đọc gửi
Tin tức này chưa có ý kiến nào