Thông tin truy cập
 
Số lượt truy cập : 212620
Khách trực tuyến : 2151
Thành viên trực tuyến : 13
 
Nhớ mãi những câu chuyện kể về Bác
23/09/2019 - 10:45
Trang 1 / 11
1. Bác dặn tôi giữ gìn sức khỏe

Tháng 7-1942, tôi có nhiệm vụ dẫn đồng chí Trần (Hoàng Sâm) cùng một số cán bộ đến các xã tổ chức tuyên truyền "tội ác phát xít Nhật". Bọn Pháp dò biết công việc của tôi. Chúng lùng bắt tôi, nhưng tôi trốn thoát. Chúng bắt vợ con tôi lên đồn, định lung lạc tinh thần để tôi ra đầu thú. Tôi rút vào hoạt động bí mật từ đó cùng với đồng chí Xích Thắng. Một lần, chúng tôi đang trao đổi tình hình thì có một đồng chí liên lạc người Mông đến trao thư của Ông Cụ hẹn gặp.

Đến một hang đá, chúng tôi gặp Ông Cụ cùng các đồng chí: Vũ Anh, Đặng Văn Cáp, Vân Trình, Lộc, Bình Dương đang quây quần bên chảo cháo gà sôi sùng sục trên bếp lửa. Đồng chí Xích Thắng giới thiệu tôi với Cụ. Ông Cụ chìa tay ra bắt và hỏi ngay chuyện vợ con tôi bị bắt. Cụ hỏi tôi có lo không. Tôi trả lời:

- Lo thì cũng lo nhưng làm thế nào được ạ. Chúng không bắt được mình thì chúng sẽ bắt vợ con hoặc bố mẹ, đánh vào tình cảm để hòng mình ra đầu thú. Chúng cũng không có cơm gạo đâu mà nuôi mình được. Đến một ngày nào đó, chúng sẽ phải trả giá. Tôi đã chuẩn bị tinh thần như vậy rồi.

Ông Cụ mỉm cười:

- Tất nhiên là như vậy. Nếu không hoạt động được công khai thì rút lui vào bí mật chứ sao. Rừng núi của ta rộng lớn như thế này, Tây lấy đâu ra quân lính để lùng bắt ta được. Chính vì ta thương vợ con mà ta đi làm cách mạng. Nếu bây giờ muốn gặp vợ con mà ra đầu thú thì sẽ bị chúng bắt bỏ tù. Rồi cả đời không được gặp vợ con nữa. Bây giờ chịu đựng thì một ngày gần đây sẽ được sum họp. Thôi, hãy ăn cháo đã.

Ông Cụ múc cháo cho từng người, đưa tận tay và giục ăn. Ăn xong, Ông Cụ giơ đồng hồ ra xem, hỏi chúng tôi đi hay ngủ lại. Chúng tôi đáp là muốn di ngay. Ông Cụ đồng ý và nói: Phải. Các đồng chí cũng nên về ngay để bám sát, ổn định tình hình. Nếu về thì phải dựa vào họ hàng, anh em thân thích để nắm tình hình của địch đã. Không được vào nhà mình ngay mà mắc bẫy của địch. Phải chọn cơ sở tốt. Không được bạ ai cũng bắt liên lạc. Bốn ngày sau, đồng chí quay lại báo cáo công việc.

Chúng tôi chào Ông Cụ và các đồng chí ra về. Đến lúc này, tôi mới biết Ông Cụ là lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc. Tôi mừng quá.

Đúng hẹn, tôi và đồng chí Xích Thắng quay về. Thấy mặt tôi đỏ gay, rên hư hử, Bác gọi đồng chí Cáp mang kim ra châm cứu cho tôi. Châm cứu cho tôi xong, Bác tập trung mọi người lại nghiên cứu tài liệu Lịch sử Đảng Cộng sản (b) Liên Xô. Bác giao cho một người đọc. Riêng tôi, Bác cho nằm nghe, nhưng không được ngủ. Sợ tôi không chú ý, bất thình lình Bác hỏi tôi: Tư bản chủ nghĩa là gì? Tôi trả lời: Thưa Cụ, tư là riêng, bản là vốn. Tư bản là vốn riêng ạ!

Bác không nói gì, lần lượt hỏi từng người. Mỗi người nói một cách, một ý khác nhau. Cuối cùng Bác hỏi đồng chí Vũ Anh. Đồng chí Vũ Anh trả lời đúng hơn cả. Bác kết luận:

- Định nghĩa như đồng chí Trinh (tên thật của đồng chí Vũ Anh) là đúng. Tư bản nếu hiểu theo nghĩa đen của chữ Trung Quốc là "vốn to". Song phải hiểu theo nghĩa bóng đó là những người có nhiều nhà máy, hầm mỏ, chuyên sống bằng bóc lột thợ thuyền…

Bốn ngày sau, khỏi sốt, tôi xin xuống làng công tác. Bác đưa tôi ra tận cửa hang. Thấy tôi còn xanh xao, Bác ân cần dặn dò giữ gìn sức khỏe để hoạt động lâu dài. Vừa bước được vài bước chân, đến mỏ đá hôm đầu tiên tôi biết Bác là lãnh tụ, bỗng tôi quay lại nhìn về phía hang, Bác vẫn đứng đó, vẫy tôi dặn với:

- Chú Hồng Mi, cố gắng công tác nhé. Nhưng phải giữ gìn sức khỏe đấy!

Sự quan tâm của Bác đối với cán bộ thật lớn lao ngay từ những câu nói rất đỗi giản dị ấy.

(Trịnh Nam Hiến (tức Lượng) kể, trích trong sách Bác Hồ sống mãi với chúng ta, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005)

2. Những lời dạy bảo ân tình

Năm 1948, tôi đang công tác ở Liên khu 5 thì được phép đi điều trị ở một bệnh viện Trung ương tại chiến khu Việt Bắc.

Tuy ở căn cứ của Trung ương Đảng và Chính phủ nhưng trong khi ngày ngày nghỉ chờ tiêm thuốc, khám bệnh, tôi không dám nghĩ mình sẽ có dịp được gặp Bác thật. Thật bất ngờ, niềm hạnh phúc ấy lại đến với tôi. Nghe tin có một số cán bộ miền Nam ra chữa bệnh, Bác đến thăm. Cùng đi với Bác có anh Nguyễn Trọng Vĩnh. Lần này tôi thực sự được gặp Bác và còn được Bác thăm hỏi, trò chuyện. Bác đội mũ cát, mặc bộ quần áo nâu giản dị, khăn mặt vắt vai, chân đi dép cao su. Bác hồng hào, khỏe mạnh hơn nhiều so với hôm chúng tôi được thấy Bác ở cuộc mít tinh Tuần lễ vàng năm 1945. Dáng điệu của Bác thật là thanh thản, thoải mái. Bác đến bên giường tôi nằm, Bác hỏi:

- Chú tên là gì? Quê ở đâu?

Tôi thưa:

- Thưa Bác, cháu là Huỳnh Đắc Hương. Quê cháu ở Hội An, tỉnh Quảng Nam.

Bác nói:

- Quảng Nam là đất cách mạng kiên cường. Các chú phải biết phát huy truyền thống đó. Chú còn trẻ, phải cố gắng chữa bệnh cho tốt để còn hoạt động lâu dài. Muốn chữa bệnh cũng phải có nghị lực như chiến đấu.

Bác còn hỏi một số tình hình và căn dặn các bác sỹ, y tá đi theo phải cố gắng chăm nom bệnh nhân cho thật tốt. Lần đầu tiên được ở cạnh Bác, được Bác hỏi han, tôi xúc động và lúng túng quá nên Bác hỏi gì tôi trả lời nấy và không nhớ là mình đã nói những gì. Cho đến khi Bác ra về, tôi vẫn còn ân hận là có nhiều điều muốn thưa với Bác mà cuối cùng không nói được lời nào. Tôi chỉ mới ngắm nhìn Bác.

Tôi biết Bác nghiện thuốc lá nặng, nhưng trong lúc thăm chúng tôi không thấy Bác hút. Bác tôn trọng nội quy của bệnh viện và không muốn làm ảnh hưởng đến chúng tôi. Tôi suy nghĩ mãi về hành động đó của Bác, thật giản dị mà cũng rất lớn lao. Bác để cho chúng tôi một bài học có giá trị giáo dục sâu sắc về ý thức tổ chức và kỷ luật.

Năm 1955, chúng tôi tập kết ra miền Bắc. Tôi công tác ở Cục Tổ chức thuộc Tổng cục Chính trị. Lúc ấy có chủ trương chuyển các đơn vị quân đội sang vừa sản xuất vừa luyện tập sẵn sàng chiến đấu. Sư đoàn 305 của Liên khu 5 được chuyển lên địa phận Phú Thọ, khu vực Thậm Thình. Bác muốn lên thăm anh em. Anh Nguyễn Chí Thanh cử tôi lên trước để chuẩn bị.

Thế là một lần nữa tôi vinh dự được ở bên Bác. Cuộc gặp gỡ diễn ra hết sức giản dị mà ấm cúng. Anh em quây quần bên Bác, chẳng khác nào như đàn con quấn quít bên cha. Bác trò chuyện, thăm hỏi anh em, Bác nói đến những thắng lợi to lớn của cách mạng và con đường phải đi tới. Bác căn dặn quân đội cách mạng phải chiến đấu giỏi nhưng cũng phải sản xuất giỏi. Cha ông ta ngày xưa đã có truyền thống khi có giặc thì toàn dân đánh giặc, khi đất nước hết giặc thì ra sức sản xuất. Sư đoàn 305 đã chiến đấu giỏi, luôn sẵn sàng chiến đấu để góp phần thực hiện nhiệm vụ xây dựng chủ nghĩa xã hội trên miền Bắc và tiến tới thống nhất nước nhà. Bộ đội phải tôn trọng nhân dân, gắn bó với nhân dân, sống với nhân dân như cá với nước; phải kính trọng người già, phụ nữ, quý mến trẻ em; phải coi chỗ nào trên đất nước mình cũng là quê hương ruột thịt. Lời của Bác thật sự là những lời thân thiết của người cha dạy bảo các con, giản dị mà chân tình, dẽ hiểu mà sâu sắc, bao hàm một nội dung rộng lớn về tư tưởng cách mạng triệt để, về nhiệm vụ chiến lược của cả nước, vì mục tiêu chiến đấu và phẩm chất cách mạng của quân đội nhân dân.

Trước mắt, bước vào nhiệm vụ sản xuất, nhiều anh em còn băn khoăn lo lắng, nhưng sau khi nghe Bác nói thì ai cũng tin tưởng và thấy rõ trách nhiệm của mình.

Năm 1958, trong buổi lễ phong quân hàm của quân đội, tôi lại có dịp may mắn được gặp Bác. Được tham dự lễ có khoảng 20 cán bộ cả ba miền Bắc - Trung - Nam do Bộ Quốc phòng lựa chọn. Trong lễ tấn phong, Bác đã thân mật nói chuyện với anh em cán bộ cao cấp có mặt. Bác biểu dương quân đội đã hoàn thành nhiệm vụ của Đảng và Chính phủ giao cho; đã có truyền thống vẻ vang là tuyệt đối trung thành với Đảng, với nhân dân. Bác chỉ ra nhiệm vụ của quân đội trong giai đoạn mới. Bác nói: Quân đội ta phải kiên quyết bảo vệ những thành quả của cách mạng, tích cực tham gia công cuộc cải tạo và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, làm chỗ dựa vững chắc cho công cuộc đấu tranh thống nhất nước nhà. Một lần nữa Bác lại nói đến sự nghiệp thống nhất nước nhà. Đó là ý chí, tình cảm và quyết tâm của Bác. Ý chí của Bác cũng là ý của toàn dân, toàn quân ta. Bác nói tiếp: Để làm tròn nhiệm vụ vẻ vang ấy, quân đội ra phải là một quân đội nhân dân, một quân đội cách mạng tiến lên chính quy và hiện đại. Mỗi đồng chí phải ra sức học tập, rèn luyện, tu dưỡng, củng cố lập trường giai cấp công nhân, nâng cao trình độ chính trị và quân sự, phát huy truyền thống tốt đẹp của quân đội ta… Bác căn dặn chúng tôi nhiều điều về trách nhiệm, phẩm chất của người cán bộ quân đội cách mạng…

Năm 1965, sau những thắng lợi ở miền Nam, Trung ương điện các quân khu cử người ra báo cáo. Ở miền Nam là anh Trần Văn Trà, Liên khu 5 thì tôi được cử đi đại diện cho Quân khu.

Trong thời gian công tác ở Trung ương, anh Trà và tôi được Bác cho gọi đến ăn với Bác bữa cơm thân mật. Anh Nguyễn Chí Thanh cùng dự với chúng tôi. Bác khen quân và dân Nam Bộ đánh trận Bàu Bàng, quân và dân Tây Nguyên đánh trận Plâyme như vậy là tốt. Nó chứng tỏ quân và dân ta không những đánh được Mỹ mà còn đủ sức đánh thắng Mỹ.

Bác hỏi vui tôi:

- Địch dùng trực thăng vận, các chú đã bị nó vồ trượt lần nào chưa?

Tôi thưa:

- Thưa Bác, ở trận Plâyme, trong lúc anh Chánh và cháu đang kiểm tra chiến trường thì không ngờ nó ập đến nhanh quá, nhưng nhờ có cây mắc cỡ mà chúng cháu không việc gì.

- Cây mắc cỡ nào cao thế à?

- Thưa Bác, vâng. Cây mắc cỡ trong đó mọc thành rừng, che kín đất mà màu cây cũng giống màu đất.

Bác còn hỏi anh Trà và tôi cũng nhiều chuyện nữa và dặn dò chúng tôi nhiều điều. Bác so sánh sự khác nhau giữa đánh pháp trước đây và đánh Mỹ ngày nay. Pháp tuy yếu hơn Mỹ nhưng điều kiện chiến đấu của chúng ta ngày ấy khó khăm hơn nhiều. Ngày ấy thực sự là châu chấu đá voi, nhưng cuối cùng ta đã làm cho voi lòi ruột. Đó là thế thắng tất yếu của cách mạng. Còn ngày nay là cuộc đọ sức của hai lực sỹ. Tuy Mỹ là lực sỹ khổng lồ, vũ trang đến tận răng nhưng không có chính nghĩa, không có địa lợi nhân hòa. Còn ta tuy là lực sỹ tí hon nhưng sức mạnh của cả đất nước, có nhân dân, có lối đánh riêng của mình và có sự ủng hộ của cách mạng và nhân dân thế giới. Sức mạnh của ta là sức mạnh của nhân dân và là xu thế đi lên của lịch sử. Còn sức mạnh của địch là sức mạnh của xu thế đi xuống nên nó sẽ dần dần bị tàn lụi và thất bại. Tất nhiên là phải biết đánh cho chúng thất bại.

Câu chuyện thân mật của Bác đã giúp cho chúng tôi một bài học vô cùng sâu sắc về đấu tranh cách mạng và tinh thần lạc quan cách mạng.

Có một chuyện vui. Biết chúng tôi ở chiến trường ăn uống kham khổ, hôm đó Bác bảo làm thêm thức ăn. Thấy chúng tôi ăn đã no mà thức ăn còn nhiều, biết tính Bác, anh Nguyễn Chí Thanh muốn đỡ cho chúng tôi. Anh thưa với Bác:

- Bác ngồi chơi đã lâu, mời Bác về nghỉ cho đỡ mệt.

Bác rất tinh ý, Bác cười:

- Để Bác ngồi tiếp với các chú miền Nam thêm lúc nữa.

Bác hỏi chúng tôi có muốn nghe chuyện ngoại giao không? Chúng tôi chưa hiểu ý Bác ra sao thì Bác đã kể chuyện có lần đồng chí Môlôtốp gặp Thủ tướng Anh Sớcsin. Vừa chuốc rượu, Thủ tướng Anh vừa nói đùa đồng chí Môlôtốp:

- Các ông phê phán tôi là phản bội giai cấp, nhưng chính các ông cũng không phải người thuộc giai cấp vô sản. Còn chính tôi mới xuất thân từ nghèo khổ.

Sớcsin nói thế có ý khoe mình là người của Công Đảng - Đảng của công nhân.

Môlôtốp cười xòa:

- Thế là chúng ta đều là người phản bội giai cấp.

Kể xong, Bác cười vui:

- Ngoại giao thì thế nhưng ăn uống thì phải thật thà, phải ăn thật hết, không được bỏ thừa.

Chúng tôi cùng cười nhưng hết sức xúc động trước tấm lòng của Bác.

Hồi ấy, tôi vẫn còn bị sốt rét luôn, người yếu, ăn uống kém, nhưng hôm đó tôi đã ăn rất ngon, gấp đôi ngày thường. Tôi cũng vui vì đã làm vui lòng Bác.

Sau thời gian công tác ở Tây Nguyên, tôi được chuyển sang công tác ở Bộ Tư lệnh Quân khu Tây Bắc.

Chúng tôi cũng được tin là thời gian này, Bác đang mệt. Lời dạy của Bác đã làm cho chúng tôi thêm bồi hồi xúc động. Tất cả chúng tôi, những chiến sỹ tình nguyện sang giúp bạn chiến đấu hoặc công tác ở Lào, không ai không thấm sâu, không thuộc lòng những lời Bác dạy: Phải biết yêu quý, tôn trọng núi sông, nhân dân, Tổ quốc mình. Giúp bạn cũng là tự bảo vệ mình. Lời dạy của Bác thể hiện tình nghĩa quốc tế cao cả, tình cảm quốc tế đẹp đẽ, đường lối quốc tế vô cùng trong sáng của Đảng ta.

Giữa lúc đó thì Quân ủy Trung ương triệu tập một hội nghị cán bộ cao cấp. Một số anh em ở Bộ Tư lệnh Quân khu Tây Bắc, trong đó có tôi, được về dự. Nghe tin Bác ốm, cả hội nghị đều rất băn khoăn và mong muốn được thăm Bác. Chiều ý chúng tôi, Bác để cho chúng tôi được gặp Bác ở nhà khách Chính phủ. Bác vẫn đi lại được nhưng sức khỏe của Bác đã giảm sút nhiều. Bác ân cần dặn dò chúng tôi nhiều điều. Riêng về vấn đề giúp bạn Lào, Bác nhắc lại và nhấn mạnh là phải bảo vệ thật tốt cánh đồng Chum. Biết Bác mệt, anh em chúng tôi không ai dám nói nhiều mà chỉ ngồi nghe như nuốt từng lời Bác, nước mắt cứ rưng rưng. Riêng tôi, tôi cầu mong cho sức khỏe cả Bác tốt lên để Bác dẫn dắt sự nghiệp cách mạng của chúng ta đến ngày toàn thắng, và thầm hứa với Người: "Chúng cháu xin thực hiện bằng được lời dạy của Bác".

(Huỳnh Đắc Hương kể, trích trong cuốn Bác Hồ với đất Quảng, Nxb, Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000).

3. Kỷ niệm lần gặp Bác

Năm 1955, chừng 20 học sinh Việt Nam người dân tộc Khmer và 30 học sinh của các dân tộc Tây Nguyên tập kết ra Bắc có trình độ lớp 4 trở lên đi học ở Trường Trung sơ cấp Sư phạm miền núi Trung ương cùng các bạn học sinh dân tộc thiểu số ở miền Bắc. Chúng tôi được nghe nhiều tiếng nói, âm sắc khác nhau của mỗi dân tộc thể hiện lòng yêu mến Bác Hồ bằng ngôn ngữ riêng của dân tộc mình: Book Hồ, A Cha Hồ, Ava Hồ, Giàng Hồ, Ké Hồ, Prak Hồ, Um Hồ… và lúc nào chúng tôi cũng mong được gặp Người. Năm học 1956, ước mơ được gặp Prak Hồ của chúng tôi thành sự thật. Người đi thăm lớp học, nơi ở, nhà bếp, sân chơi,… của chúng tôi. Người dặn dò:

- Các cháu là con em các dân tộc trong cả nước về đây học tập để sau này trở thành thầy cô giáo phải đoàn kết thương yêu nhau như anh em một nhà. Cố gắng học thật tốt để đem hiểu biết đó xây dựng quê hương mình. Các cháu phải có trách nhiệm mang ánh sáng văn hóa của Đảng về thắp sáng bản mường, buôn rẫy, phum sóc của mình…

Rồi Prak Hồ hỏi:

- Các cháu có đồng ý vậy không?

- Thưa Bác, có ạ!

Tất cả chúng tôi đồng thanh trả lời.

Năm 1957, Đoàn đại biểu Chính phủ Inđônêxia sang thăm Hà Nội, giáo sinh các dân tộc ở trường chúng tôi mặc trang phục theo dân tộc mình, đón Đoàn tại lễ đường Trường Đại học Y khoa Hà Nội.

Bác Hồ giới thiệu chúng tôi với Tổng thống Xucácnô.

Rồi Người quay sang hỏi chuyện chúng tôi:

- Cháu là người dân tộc Khmer phải không?

- Dạ, phải!

Tôi vô cùng ngạc nhiên không hiểu tại sao Prak Hồ biết.

- Cháu học lớp mấy?

Người hỏi tiếp.

- Dạ, lớp 7 ạ!

- Nhớ ba má, quê hương miền Nam không?

- Dạ, nhớ lắm ạ!

Prak Hồ dặn:

- Cố gắng học thật giỏi để thể hiện tấm lòng nhớ thương ba má và quê hương…

Lần ấy là lần thứ ba và cũng là lần cuối cùng chúng tôi gặp Bác. Từ đó, trong quá trình học tập cho đến khi tốt nghiệp, bảo vệ thành công luận án Phó Tiến sĩ ở Liên Xô (1970) và mãi mãi không bao giờ tôi quên lời dặn dò của Người.

(Trần Thanh Pôn kể, đăng trên Báo Sài Gòn ngày 19/5/1990)
Trang 2 / 11
4. Hai lần gặp Bác

Trung thu năm 1966, Thành đoàn tổ chức cho Câu lạc bộ thiếu nhi biểu diễn tại Nhà hát thành phố, có báo cáo mời Bác Hồ đến vui với các cháu.

Sắp đến giờ mở màn. Mọi người nóng lòng mong Bác đến. Tôi đang khẩn trương chuẩn bị phía trong sân khấu. Thỉnh thoảng lại khẽ hé riđô nhìn ra các hàng ghế đầu xem Bác tới chưa. Nhưng chỗ Bác vẫn để trống mà phía sau đã ngồi đầy ắp ba tầng nhà hát.

Chợt có tiếng reo to: "Bác Hồ! Bác Hồ!". Tôi quay lại đã thấy Bác đứng đằng sau cánh gà trong bộ quần áo lụa giản dị, tay cầm chiếc quạt giấy nhẹ nhàng quạt cho mấy cháu đứng bên. Bác hỏi:

- Hôm nay các cháu biểu diễn gì? . .

- Dạ thưa Bác, hôm nay chúng cháu biểu diễn ca múa nhạc ạ!

Bác hỏi tiếp:

- Thế có tiết mục văn nghệ dân tộc không?

- Thưa Bác, có ạ!

Các cháu ríu rít quanh Bác, còn tôi, vì hồi hộp quá không biết nên thưa Bác điều gì. Bác đi thăm các đồng chí phục vụ nhà hát rồi xuống xem biểu diễn.

Tối biểu diễn hôm đó thành công tốt đẹp, vui, sôi nổi hơn bao giờ hết.

Một lần khác, tôi dẫn gần 100 cháu và cán bộ phụ trách vào biểu diễn phục vụ khách tại Phủ Chủ tịch.

Khi các cháu vừa hóa trang và chuẩn bị xong thì Bác và một số đồng chí từ Nhà sàn đi tới, trên con "đường xoài" mát rượi. Các cháu ùa ra đón Bác, còn tôi và mấy cán bộ đội chỉ đứng ngây ra nhìn Bác và đàn cháu nhỏ. Cháu nào cũng muốn chen vào để được gần Bác, để được Bác cầm tay, xoa đầu và hỏi han. Bác và các cháu đi dần về phía "sân khấu" nơi Bác sẽ tiếp khách.

Chợt Bác hỏi:

- Hôm nay các cháu làm gì mà đánh phấn, má hồng thế này?

- Thế không đánh phấn thì có biểu diễn được không? - Bác hỏi tiếp.

Các em đồng thanh trả lời:

- Thưa Bác có ạ!

Cán bộ phụ trách chúng tôi lúc ấy đều hiểu ý Bác: Không nên quá câu nệ hình thức son phấn đối với tuổi thơ trong những buổi sinh hoạt thế này.

Cuối buổi biểu diễn, Bác cùng khách gọi các cháu đến để chia kẹo và chụp ảnh cùng Bác.

(Theo Lê Bul, đăng trên báo Hà Nội mới ngày 15-5-1985)

5. Những kỷ niệm ngoại giao sâu sắc với Bác Hồ

Sau chiến thắng Việt Bắc, Bác và anh Trường Chinh gặp tôi, giao nhiệm vụ tổ chức một đoàn đại biểu ngoại giao nước ngoài nhằm tuyên truyền về cuộc kháng chiến của ta, tranh thủ sự ủng hộ của nhân dân thế giới. Nhận nhiệm vụ được giao, tôi về tổ chức ngay đoàn đi.

Trong khi anh em đang chuẩn bị tài liệu để lên đường, Bác gọi tôi đến hỏi về công việc chuẩn bị và sức khỏe của đoàn, Bác bảo tôi: "Chú xem ai có khó khăn gì về gia đình không? Trước khi đi, cần kiểm tra lại sức khỏe của anh em, vì tôi biết chuyến này đi vất vả". Rồi Bác trao cho tôi bức thư do Bác tự đánh máy nhờ tôi trao lại cho anh em trong đoàn. Bác nói: "Cố gắng động viên tinh thần anh em cho tốt". Trong thư Bác viết:

"Gửi các đồng chí lên đường!

Một, chúc các đồng chí đi đường, chân cứng, đá mềm, thuận buồm xuôi gió.

Hai, các đồng chí đi đường sẽ cực khổ, công tác sẽ khó khăn.

Các đồng chí phải đem toàn tinh thần và nghị lực của thanh niên yêu nước mà chịu đựng, phấn đấu, khắc phục mọi sự gian nan, để tranh lấy thắng lợi.

Ba, từ lời nói đến việc làm, bất kỳ to nhỏ, các đồng chí phải luôn luôn nhớ rằng: Mình là đại biểu cho thanh niên yêu nước, ra ngoài để giúp anh em công tác, để đem tình thân ái của Tổ quốc cho kiều bào và để giúp đỡ họ, để tuyên truyền cho thanh niên và cho cả dân tộc Việt Nam.

Bốn, các đồng chí phải: Ở trong nội bộ thì thương yêu giúp đỡ nhau, phê bình và học tập nhau. Trong công tác, thì cố gắng làm cho đầy đủ nhiệm vụ, làm cho xứng đáng lòng tin cậy của anh em thanh niên, của đoàn thể và của đồng bào.

Mong rằng các đồng chí sẽ nhớ những lời thành thật đó, và sẽ làm tròn sứ mệnh vẻ vang đó.

Chúc các đồng chí mạnh khỏe.

Chào thân ái và quyết thắng.

Tháng 2 năm 1948

Hồ CHÍ MINH"

Bác ký bằng mực tím và đóng dấu vuông, nhỏ, màu đỏ rất đẹp.

Tôi mang thư của Bác đọc cho anh em trong đoàn nghe. Ai nấy xúc động lắm. Anh Nguyễn Chương nhờ tôi báo cáo lên Bác là dù khó khăn, gian khổ thế nào, anh em cũng cố gắng làm tròn nhiệm vụ. Tôi đem ý kiến của anh em trong đoàn báo cáo lên Bác. Bác khen như vậy là tốt. Bác còn dặn phải hết sức quan tâm đến anh em, phát thêm cho mỗi đồng chí một bộ áo quần phòng khi đi đường…

Sau này, tôi nghe anh Nguyễn Minh kể lại, chuyến đi dù rất gian khổ nhưng ta vẫn cố gắng tuyên truyền ra quốc tế về cuộc kháng chiến của ta, nhận được sự giúp đỡ to lớn của nhân dân thế giới đối với nhân dân Việt Nam. Chuyến đi dài ngày của đoàn mang lại kết quả tốt đẹp, Bác rất vui mừng vì kết quả đó.


Nhân đà thắng lợi sau chiến thắng biên giới, Bác và Trung ương mở rộng mối quan hệ với các nước anh em. Một hôm, Bác gọi tôi đến và nói Bác muốn cử một đoàn đại biểu của ta sang thăm Trung Quốc và Triều Tiên nhằm góp phần cổ vũ nhân dân Trung Quốc anh em trong công cuộc xây dựng lại đất nước và nhân dân Triều Tiên anh em chiến đấu giải phóng Tổ quốc của họ. Cuộc đi thăm của ta còn nhằm mục tiêu chung là thắt chặt tình hữu nghị giữa nhân dân ba nước Việt - Trung - Triều, cùng nhau trao đổi, cùng nhau học tập kinh nghiệm, góp phần đẩy mạnh cao trào chống chủ nghĩa đế quốc xâm lược Châu Á. Bác còn nói đại ý: Chúng ta hãy coi trọng công tác quốc tế như công tác trong nước. Bác giao cho tôi làm Trưởng đoàn, còn các thành viên trong đoàn do tôi lựa chọn. Nhưng Bác căn dặn: Đây là đoàn đại biểu có tính chất mặt trận - nhân dân, nên thành phần cần có công nhân, nông dân, quân đội, trí thức, phụ nữ, thiếu niên… Tôi vâng lời Bác dặn, bắt tay ngay vào soạn thảo kế hoạch và chọn người cho chuyến đi.

Ngày 03-7-1951, phái đoàn lên đường. Khi xe sắp chuyển bánh thì Bác đến. Bác bắt tay từng người rất chặt, kiểm tra hành lý của chúng tôi xem đủ chưa và ân cần dạy bảo những điều cần thiết khi ra nước ngoài. Vấn đề mà Bác chốt lại là cố gắng giữ mối quan hệ thật tốt đẹp với nhân dân các nước, coi đó là phẩm chất người cán bộ làm nhiệm vụ quốc tế.

Sau hơn sáu tháng hành trình, thăm nhiều nơi ở Trung Quốc và Triều Tiên, ngày 13/12/1951, phái đoàn rời khỏi cột mốc biên giới Trung - Việt để về nước. Nghỉ ngơi ít ngày lấy lại sức khỏe, tôi xin phép gặp Bác và các anh trong Bộ Chính trị để báo cáo kết quả chuyến đi. Chuyến thăm này đã mang mối tình của nhân dân Việt Nam và của Bác đến với nhân dân Trung Quốc và Triều Tiên. Qua cuộc đi thăm này, chúng tôi thấy rõ cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Trung ương Đảng và Bác Hồ có uy tín lớn trên trường quốc tế. Bác đánh giá cao chuyến đi. Bác nói: "Đây là chuyến đi của tình hữu nghị anh em Việt - Trung - Triều chiến đấu và chiến thắng".

(Hoàng Quốc Việt kể, trích trong cuốn Bác Hồ trong trái tim các nhà ngoại giao, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1990)

6. Đóa sen hồng

Bác Hồ - người anh hùng giải phóng dân tộc, một nhà văn hóa lớn, một người ông, một người cha vô cùng kính yêu của những người làm nghệ thuật như tôi. Là nghệ sỹ chèo, tôi đã vinh dự được gặp Bác bốn lần. Lần thứ tư tôi được gặp Bác là vào ngày 17/7/1969, sau khi tôi đi biểu diễn ở nước ngoài về. Tôi được Bác cho phép vào ăn cơm với Bác tại phòng riêng, có cả anh Vũ Kỳ, Thư ký riêng của Bác cùng ăn. Bác hỏi tôi:

- Kim Liên đi Tây về chắc thèm canh cua lắm nhỉ?

Tôi thưa với Bác:

- Cháu thèm lắm, Bác ạ!

Bác lại bảo:

- Ừ, hôm nay Bác cho cháu ăn cơm với canh cua.

Thế là ba bác cháu ngồi vào mâm cùng ăn rất vui. Trong mâm cơm của Bác hôm đó có canh cua, có cà, một đĩa phèo lợn, một đĩa rau xào, một đĩa thịt nạc xào và một bát dấm ớt. Tôi ngồi ăn nhưng vẫn không ngừng quan sát Bác xem Bác ăn có ngon miệng không. Còn Bác thì không quên gắp thức ăn cho tôi. Thấy Bác ăn ít quá, tôi cố mời Bác ăn. Bác nói:

- Khi Bác ăn được thì không có cái gì để ăn. Khi có cái ăn thì ăn không được.

Tôi xúc động đến nghẹn ngào vì thương Bác!

Bác hỏi tôi:

- Chồng cháu có hay viết thư về không? Bích và Hồng có khỏe không?

Tôi sửng sốt và xúc động đến nghẹn ngào, không ngờ một vị Chủ tịch nước bận trăm công nghìn việc mà vẫn còn nhớ đến chồng, đến con của một người như tôi. Tôi ấp úng trả lời:

- Dạ thưa Bác, đã sáu năm rồi cháu chưa được gặp chồng cháu. Còn hai cháu Bích, Hồng vẫn khỏe ạ.

Bác lại hỏi tôi:

- Chú Xuân Thủy tặng cho cháu bài thơ thế nào, cháu đọc đi cho Bác nghe.

Tôi buông đũa xuống mâm và đọc bài thơ Đóa sen hồng:

Kim Liên quê ở Nam Hà…

Bác ngắt ngay ở đó và bảo:

- Kim Liên vốn ở Nam Đàn chứ.

Nói xong, Bác bảo tôi đọc tiếp. Tôi đọc một mạch trong giọng ngâm xúc động. Bác chăm chú nghe tôi đọc thơ. Còn tôi thì chăm chú nhìn Bác suýt nữa quên cả lời thơ. Tôi đọc xong, Bác gật đầu khen hay. Tôi vô cùng sung sướng và nói:

- Cháu thấy Bác đẹp như ông tiên vậy.

Bác liền quay sang nói với anh Vũ Kỳ giọng rất vui:

- Nó lại nịnh Bác để Bác thưởng kẹo cho nó đấy.

Ôi! Câu nói sao mà giống hệt như những người ông nói với cháu mà tôi vẫn được nghe ở gia đình hoặc ở đâu đó trong làng quê Việt Nam.

Ăn cơm xong Bác dặn anh Vũ Kỳ:

- Chú nhớ gửi kẹo cho hai cháu Bích, Hồng nhé.

Sau đó, Bác cho phép tôi được lên thăm Nhà sàn của Bác. Tôi theo chân Bác hồi hộp bước lên cầu thang. Bước vào phòng riêng của Bác, tôi đưa mắt quan sát khắp gian phòng đơn sơ mà lòng trào dâng một niềm thương cảm. Tôi không ngờ Bác Hồ, vị Chủ tịch nước kính yêu và vĩ đại của dân tộc lại ở trong một gian phòng nghỉ, tiện nghi quá giản đơn, của cải chẳng có gì! Như hiểu được ý nghĩ của tôi, Bác nói giọng trầm buồn:

- Bác chẳng có gì cho cháu cả! Bác chỉ có cái thước mà lúc còn trẻ bôn ba qua các nước, Bác có nhặt được mảnh gỗ, tự tay đẽo thành một cái thước kẻ để dùng, nay Bác cho cháu để làm kỷ niệm.

Tôi cầm cái thước mà rơm rớm nước mắt vì không ngờ Bác lại nghèo đến thế. Tôi phát hiện trên cái thước có ghi ba chữ cái: S - N - K (Suy nghĩ kỹ). Một lần nữa tôi lại hiểu thêm cuộc đời và nhân cách vô cùng trong sáng của Bác. Đến uyên thâm và vĩ đại như Bác mà khi viết và nói gì cũng phải: "Suy nghĩ kỹ". Cho đến nay, tôi vẫn giữ cái thước của Bác Hồ như giữ một vật thiêng liêng nhất.

(Kim Liên kể, trích trong cuốn Bác Hồ sống mãi với chúng ta, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005)

7. Mắc đèn trong vườn Bác

Ngày ấy, có vị tổng thống đến thăm nước ta. Cũng như mọi lần, chúng tôi vui sướng chuẩn bị vào Phủ Chủ tịch mắc đèn trang trí trong vườn Bác.

Chúng tôi đến nơi làm việc thật sớm, phần để cho công việc chóng xong, phần để ngắm Bác kính yêu khi Bác đi những đường quyền trông khỏe mạnh, nhanh nhẹn và đẹp mắt, hoặc Bác chăm cây vú sữa, tưới luống rau cải, tỉa cành hoa hồng buổi sớm...

Ăn cơm chiều xong, chúng tôi vội vã kiểm tra lại phần việc của mình, cố không sai sót để Bác vui lòng. Đúng 19 giờ 30 phút Bác ra vườn với chúng tôi. Cũng như mọi lần, chúng tôi sung sướng chào Bác. Bác tươi cười chào lại và nói:

- Các chú công nhân bật đèn lên cho Bác xem đi!

Tôi chạy vội lại phía trạm điện đóng cầu dao. Ánh sáng điện tỏa trên các ngọn cây, dưới vòm lá, lấp lánh, chiếu sáng đẹp khuôn mặt hiền từ và chòm râu bạc của Bác. Tôi sung sướng mời Bác đi quanh khu vườn rộng. Bác chú ý xem từng ngọn đèn và luôn luôn gật đầu tỏ ý hài lòng. Tôi đang phấn khởi thì Bác dừng lại, chăm chú nhìn một ngọn đèn pha dưới gốc cây rồi thân mật bảo tôi:

- Ngọn đèn này phải để khuất dưới lùm cây. Như thế đẹp hơn. Đồng bào qua đường nhìn vào đỡ chói mắt. Miệng nói, Bác nhanh nhẹn bước lại ngọn đèn. Tôi lo lắng quá vì lúc đó Bác lại đi đôi guốc mộc trên đường rải sỏi, dễ trượt ngã. Tôi chạy theo thưa với Bác:

- Bác để chúng cháu làm ạ!

Nhưng Bác đã cúi xuống, hai bàn tay cầm lấy thân đèn. Không còn cách nào khác, tôi cùng Bác khiêng pha đèn nặng vào lùm cây đinh hương. Giây phút ấy tôi vừa ân hận vừa sung sướng. Ân hận vì mình chưa làm cho Bác vừa ý, sung sướng vì được làm việc bên Bác dầu chỉ có mươi phút.

Ngọn đèn được Bác thay chỗ, đặt dưới vòm cây đinh hương lá nhỏ, khiến ánh sáng của nó đẹp hẳn lên. Bây giờ người đi đường nhìn vào sẽ không trông thấy đèn, chỉ thấy một vùng ánh sáng chiếu qua kẽ lá hắt lên thành một màu xanh dịu.

Một lần khác, chúng tôi lại vào chăng đèn ở Phủ Chủ tịch, để Bác đón khách quý. Nhớ lời Bác dặn: "Phải luôn luôn phát huy sáng kiến. Nhiệm vụ của chúng tôi là trang trí bóng đèn ở khu vực nhà tiếp khách phải khác hẳn mọi lần. Chẳng hạn, những lần trước, trên mỗi cây, chúng tôi thường mắc bóng đèn các màu xanh, đỏ, tím, vàng lẫn lộn. Lần này chúng tôi không làm thế. Như hai cây dừa nước ở bên nhà Bác ở, tôi đặt dãy đèn một màu từ dưới gốc lên ngọn. Sau đó thì tỏa ra các cây. Mỗi lá một dây đèn pha ánh sáng chiếu hắt lên. Cố nhiên là đèn chúng tôi để khuất hẳn trong lùm cây như lần trước Bác đã chỉ bảo. Khu vườn cây của Bác lộng lẫy hẳn lên. Chúng tôi sung sướng quá khi được Bác khen:

- "Lần này các chú mắc đèn đẹp đây. Khách của chúng ta cũng khen ngợi".

Sau khi khách về, chúng tôi được Bác cho xem phim. Tôi dắt cháu Vinh mới lên bốn tuổi cùng đi. Bác xoa đầu, bẹo má phình của nó rồi nói:

- Con chú kháu quá nhỉ!

Trước khi chiếu phim, Bác lại hỏi:

- Các chú thợ điện đã đủ mặt chưa?

Đồng chí tổ chức buổi chiếu phim thưa với Bác đã có đủ Bác mới cho chiếu. Lần này Bác cho chúng tôi xem cuốn phim "Người con gái của Đảng". Phim mới nên chưa có lời dịch thuyết minh, cầm bản nội dung phim, Bác dịch lại cho chúng tôi nắm được đầu đuôi câu chuyện. Bác xem rất chăm chú. Đến hết phim, Bác đứng dậy xúc động nói với chúng tôi:

- Các cô, các chú nhớ lấy! Người cộng sản là phải như thế!

Hôm tôi được kết nạp Đảng, trước cờ Đảng và chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh, lời dặn dò của Bác lại văng vẳng bên tai tôi.

(Theo Dương Văn Hậu, trích trong cuốn Chúng ta có Bác Hồ, Nxb. Lao động, Hà Nội, 1970)
Trang 3 / 11
12. Làm quân báo phải hết sức cảnh giác

Trung tuần tháng 7 - 1950, cơ quan của Bộ Chỉ huy chiến dịch đã có mặt tại địa điểm gần huyện lỵ Quảng Uyên (Cao Bằng). Một hôm, anh Văn gọi tôi cùng đến thăm các đồng chí cố vấn Trung Quốc ở cách chỉ huy sở Tà Lạng không xa. Trên đường về anh Văn nói với tôi: "Chúng ta ghé vào thăm Bác, nghỉ một lúc".

Sau khi anh Văn lên báo cáo với Bác trở về, bảo tôi: "Bác cho phép đồng chí lên gặp Bác đấy". Sắp được gặp Bác, tôi vừa mừng, vừa lo vì lần đầu tiên được trực tiếp báo cáo công việc với Bác, hoang mang không biết nói chuyện gì, bắt đầu câu chuyện ra sao thì chúng tôi đã đến nơi Bác nghỉ. Bác ngồi dậy nhìn tôi và có lẽ Bác thấy tôi đang lúng túng, Bác hỏi tôi về tình hình địch. Rồi Bác chỉ cho tôi ngồi gần và nói:

- Trong trận này ta đánh lớn, nhất định thắng nhưng địch không chịu thua một cách dễ dàng. Tình hình sẽ diễn biến phức tạp và khẩn trương. Chú làm quân báo phải hết sức cảnh giác, phải theo dõi chặt chẽ hành động của địch. Phải biết dựa vào dân khéo tổ chức và hướng dẫn cụ thể thì dân sẽ cung cấp tin tức tốt cho bộ đội. Chú rõ chưa?

- Vâng ạ.

- Thế nào bộ đội ta cũng bắt được nhiều tù binh địch, các chú phải giải thích chính sách tù hàng binh của ta cho họ rõ, để họ yên tâm. Làm công tác này chú có biết tiếng Pháp đấy chứ?

- Dạ có!

Bác suy nghĩ một lúc rồi nói tiếp:

- Chú báo lại với Ban Chính trị chú ý tờ báo của mặt trận. Phải tuyên truyền kịp các chiến thắng của ta, những gương chiến đấu dũng cảm của bộ đội, những người tốt, việc tốt tận tụy phục vụ chiến đấu của đồng bào các dân tộc - chú ý viết ngắn gọn, dễ hiểu để kịp thời động viên bộ đội và nhân dân. Bác nói tiếp:

Ta đánh lớn và đánh dài ngày, cần nhiều lương thực và đạn dược. Bạn có giúp cho ta nhưng ta phải huy động trong dân nữa. Đồng bào dân tộc Cao - Bắc - Lạng rất hăng hái đóng góp tuy còn thiếu thốn. Phải hết sức tiết kiệm.

Trước khi tôi ra về, Bác còn dạy tôi cách rang thịt heo "kiểu Việt Minh" và dặn tôi nhớ phổ biến cho anh em.

Gần một tiếng đồng hồ bên cạnh Bác, được Bác căn dặn những điều rất thiết thực cho công tác, tôi rất phấn khởi và vô cùng vinh dự khi được gặp và hầu chuyện với Bác được toại nguyện. Đến nay hồi tưởng lại, tôi không bao giờ quên lần gặp Bác ngày hôm đó. Nhớ Bác với bộ đồ nâu, khăn mặt vắt trên vai, ngồi tấm ván kê trên những tảng đá như lão nông dân. Nhớ mãi thái độ niềm nở, những lời chỉ bảo ân cần truyền cảm với những tiếng cười đôn hậu thắm tình cha con của Bác.

Một hôm, Bác đến Sở Chỉ huy gọi tôi và bảo đưa Bác đi gặp tù binh. Tôi lúng túng không biết làm thế nào để giữ bí mật, sợ tù binh nhận ra Bác thì Bác đã chỉ thị cho bác sĩ đem thuốc đỏ và bông băng râu Bác lại y như một chiến sỹ bị thương. Thật là tuyệt diệu. Tôi cho người chạy ra báo cho đồng chí Nghiêm Xuân Hiếu, cán bộ quân báo đang hỏi cung ở trại chuẩn bị gấp cho cán bộ trên gặp tù binh.

Tôi đưa Bác đến trạm, ba sĩ quan tù binh, một Đại úy Đồn trưởng Đông Khê và hai Trung úy đứng dậy khi thấy Bác vào. Lần đầu tiên tôi được nghe Bác nói tiếng Pháp hay quá, rất chuẩn. Ba tên tù binh mắt mở to rất ngạc nhiên.

Trên đường về, Bác cho biết hôm trước Bác đã gặp một toán tù binh được giải về trại, thấy có một tù binh bị thương, áo rách, Bác đã cho cái áo… Đi được một đoạn, Bác hỏi tôi:

- Sao chú lột giày của tù binh rồi treo lên cổ họ? Đối với người Châu Âu, không có giày thì họ rất khó khăn, nếu chú sợ tù binh chạy thì chí ít chú phải cho họ đi tất chứ.

Rồi Bác cười và tôi cũng cười theo.

Chiến dịch kết thúc, Bộ Chỉ huy triệu tập Hội nghị sơ kết tại Lam Sơn - Cao Bằng. Có đông đủ cán bộ của ta và bạn đến dự. Hội nghị kết thúc, tôi ra về, tình cờ được gặp Bác, Bác nói: Chú quân báo! Trong chiến dịch công tác nắm địch có ưu và khuyết điểm, cần phải được tổng kết, nhưng chú ý giữ bí mật, rồi Bác cho tôi một điếu thuốc lá thơm.

Tôi vô cùng cảm động.

Chiến dịch biên giới kết thúc, kỷ niệm về những lần gặp Bác ở mặt trận đó mãi mãi còn in sâu đậm trong lòng tôi.

(Cao Pha kể, trích trong cuốn Bác Hồ sống mãi với chúng ta, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005)

13. "Sen vàng" tỏa hương

Hôm đó là sáng Chủ nhật, vào giữa mùa Thu năm 1963. Theo thường lệ, tôi sang nhà ăn rất sớm, vì từ nhà riêng sang nhà ăn khoảng cách chỉ mươi bước đường. Thật không ngờ Bác đã đến sớm hơn tôi...

Đã gần ba chục năm, nhưng mỗi lần gợi nhớ lại, chị Lan vẫn xúc động như buổi ban đầu đột ngột gặp Bác ngày nào.

... Tới nhà ăn, chị Lan định trao đổi công việc với tổ bếp thì một mậu dịch viên từ trên gác chạy xuống báo tin:

- Bác, Bác Hồ đến thăm nhà ăn.

- Thật à? Đâu Bác đâu?

- Bác đang trên gác.

Vừa bàng hoàng, vừa xúc động, hai chân chị cứ díu vào nhau. Chị bỏ dép, chân không cứ thế chạy vội lên gác. Đúng là Bác Hồ rồi. Bác mặc quần áo kaki, chân đi dép cao su. Bác đang ở trong phòng chia cơm và thức ăn. Dường như Người đang trầm ngâm trước những suất cơm và thức ăn ít ỏi... Một đồng chí giới thiệu chị là người phụ trách nhà ăn tập thể Kim Liên này. Bác chỉ tay lên chiếc bóng đèn và một góc trần nhà nhắc nhở:

- Nơi chia thức ăn, sao để bẩn thế này?

Đến bây giờ chị mới nhìn thấy, bao lâu nay chị đâu có để ý. Hơi luống cuống, chị chưa tìm được lời. Nhưng nhìn vẻ mặt hiền từ và nụ cười độ lượng của Bác, chị trấn tĩnh lại:

- Thưa Bác chúng cháu xin sửa chữa ạ.

Bác đi xuống nhà bếp, Người ôn tồn hỏi đồng chí Khai khi ấy là bếp trưởng:

- Chú làm công việc này có vui, có phấn khởi, có yên tâm không?

- Dạ, thưa Bác, cháu rất yên tâm. Vì đây là nghề của cháu. Trước đây cháu đi bán phở rong ạ!

Bác lại hỏi:

- Chú nấu thức ăn có được người ăn khen bao giờ không?

- Dạ, thưa Bác cũng có khi được khen, nhưng đôi lần cũng bị chê ạ!

Bác cười bảo:

- Nếu thế thì phải làm sao để ngày càng có nhiều lời khen và ít tiếng chê chứ!

Rồi Bác đề nghị đưa đi xem công trình phụ: Nhà tắm - nhà vệ sinh.

Trước khi ra về Bác gặp nhóm mậu dịch viên làm ca sáng, Người nói:

- Các cháu làm công việc gì?

- Thưa Bác, chúng cháu phục vụ bàn ạ!

- Công việc của cháu có gì vui, nói Bác nghe!

- Thưa Bác, khi nào được khách ăn khen, chúng cháu rất vui ạ.

Bác lại hỏi:

- Kim Liên là gì, các cháu có biết không?

- Thưa Bác không ạ!

Bác giảng giải:

- Kim là vàng, Liên là sen. Kim Liên và sen vàng. Đã là hoa sen vàng các cháu phải phấn đấu sao cho hương thơm tỏa mỗi ngày một xa. Bây giờ còn ít người ăn, sau này nhà ăn phát triển, các cháu còn phải phục vụ nhiều. Các cháu phải cố gắng góp phần bảo đảm sức khỏe của công nhân, cán bộ.

Bác còn dặn thêm:

- Các cháu phải làm thật tốt. Bao giờ có kết quả tốt, các cháu báo cho Bác biết, Bác sẽ trở lại thăm.

(Theo Trần Thành, báo Hà Nội mới, 1980).

14. Có cũ mới có mới

Cuối tháng 02 năm 1957, Bác Hồ đến thăm Đại hội văn nghệ lần thứ hai. Tôi là nhà văn cao tuổi nhất được cử ra tiếp Bác cùng với ông Hội trưởng. Gặp chúng tôi, Bác hỏi ngay:

- Việc khai thác vốn cũ dân tộc, các cụ đã làm đến đâu rồi?

- Thưa Bác, chúng tôi đang cố gắng.

Bác nói:

- Nên làm nhanh. Có trước mới có sau. Có cũ mới có mới, nhưng chúng ta không nên nệ cổ. Bây giờ là thời đại cách mạng, phải nhanh, phải cải cách.

Bác ngồi viết mấy câu để ra nói ở Đại hội. Bác đưa chúng tôi xem để góp ý kiến. Tôi thưa:

- Bác cũng là nhà đại văn nghệ rồi!

Bác bảo:

- Không đâu! - Ra Đại hội, Bác vừa cười vừa nói: - Cụ Hoàng vừa nói tôi là nhà văn nghệ. Không đâu, tôi chỉ là người thích văn nghệ thôi, chưa phải là nhà văn nghệ.

Cả hội trường vỗ tay, kính phục đức độ khiêm tốn của Bác. Câu nói của Bác làm tôi suy nghĩ rất nhiều. "Phải có trước mới có sau, có cũ mới có mới, nhưng ta không nên nệ cổ". Trong sáng tác, tôn trọng tính dân tộc, nhưng vẫn nâng cao vốn cũ lên để kết hợp với những đặc điểm của thời đại ngày nay. Thái độ của Đảng, của Bác đối với vốn cổ văn học nghệ thuật của cha ông ta là rất đúng.

Còn tuy Bác không nhận là một nhà văn nghệ, chỉ là người yêu văn nghệ thôi, nhưng theo tôi, chính Bác là một nhà thơ vĩ đại.

(Theo nhà văn Hoàng Ngọc Phách, trích trong cuốn Bác Hồ với văn nghệ sĩ)

15. Muôn vàn tình thân yêu dành cho các cháu gái

Một điều Bác dạy bảo mà suốt đời tôi không bao giờ quên là: “Báo chí là đại biểu cho dư luận, phải giúp Chính phủ đạt được thành công trong các chính sách đối nội đối ngoại. Sau này những lúc tình hình cách mạng có chuyển biến mới, người làm báo phải suy nghĩ nhiều. Câu nói của Bác giúp tôi nhớ tới vị trí và tính chất của báo chí ta. Một lần, Bác hỏi chị Thanh Thủy và tôi: “Các cô đã có con chưa? Các cô đã biết bế con, nuôi con chưa? Làm báo Phụ nữ không phải chỉ nói chính trị suông, giải phóng phụ nữ chung chung mà còn phải hướng dẫn cho chị em cách nuôi con, dạy con chăm lo việc gia đình. “Chị em trong cơ quan hỏi Bác nhiều điều. Bác trả lời cả những câu hỏi nhỏ nhặt nhất: “Tại sao trong họa báo Liên Xô lại thấy ảnh nhiều chị em để tóc dài? Có phải là sau khi vận động phụ nữ cắt tóc ngắn rồi lại phải vận động phụ nữ để tóc dài hay sao?”. Bác trả lời đại ý: Sau Cách mạng Tháng Mười, Liên Xô có rất nhiều khó khăn trong công cuộc bảo vệ và xây dựng cuộc sống mới. Phụ nữ phải đem hết sức mình ra chiến đấu và sản xuất, cho nên chị em ăn mặc giản dị, tóc cũng cắt ngắn để đi lại cho gọn. Bây giờ, chiến tranh thứ hai kết thúc đã nhiều năm, nền kinh tế đã được khôi phục và phát triển, đời sống được nâng cao, phụ nữ đã có thể trang điểm cho thêm đẹp, ai cho rằng để tóc dài đẹp và không vướng víu gì trong sản xuất thì cứ để…

Năm 1952 có Đại hội liên hoan các anh hùng, chiến sĩ thi đua và cán bộ gương mẫu toàn quốc lần thứ nhất và Hội nghị bàn về chiến tranh du kích. Sau hai cuộc họp lớn đó, mọi người náo nức khen ngợi hai bản báo cáo của anh hùng Nguyễn Thị Chiên và của chị Phạm Thị Nhật, Bí thư chi bộ. Một hôm, Bác đến thăm cơ quan, chị em chúng tôi đều nói đến hai bản báo cáo ấy. Bác hỏi: “Các cô có biết vì sao mà báo cáo của các cô ấy hay không?”. Chị Đinh Thị Cẩn thưa: “Đó là do chị Chiên, chị Nhật đều lăn lộn, xông pha nhiều trong thực tiễn chiến đấu cho nên mới nói lên sự thật rất sinh động. Bác vừa cười vừa nói: “Đúng là như thế, nhưng không phải chỉ có thế. Các bản báo cáo ấy hay còn là do không có sự sửa chữa, thêm thắt của nhiều người khác…”. Tôi suy nghĩ rất nhiều. Câu nói ý nhị của Bác nhắc nhở tôi mỗi khi sử dụng hoặc biên tập lại bài của thông tin viên, bạn đọc trong đông đảo nhân dân, phải luôn luôn cố gắng ghi lại đúng đắn, trung thực những lời nói, những ý nghĩ mộc mạc, giản dị của những con người trong thực tiễn sản xuất và chiến đấu… không thể tùy tiện sửa đổi thêm bớt theo ý nghĩ chủ quan của mình./.

(Trích trong cuốn Những kỷ niệm sâu sắc của phụ nữ Việt Nam với Bác Hồ, Nxb. Phụ nữ, Hà Nội, 2005)
Trang 4 / 11
16. Bác dạy phải đào tạo, bồi dưỡng cán bộ tại chỗ

Tôi lên đường ra thăm miền Bắc vào đúng mùa mưa lũ. Cái vui lớn nhất của tôi là thấy nhân dân miền Bắc xây dựng cuộc đời mới và sẽ được gặp Bác Hồ.

Tôi đến Hà Nội vào tháng Tám.

Tôi nghỉ được một ngày, thì tối hôm đó anh Lê Quảng Ba cho biết là Bác Hồ mời vào thăm. Tin này làm tôi hết sức vui mừng, những mệt mỏi của chặng đường xa như đã hết. Nhưng tôi cũng rất lo. Tôi nghĩ Bác mời vào nhà là Bác muốn biết về đồng bào Tây Nguyên chiến đấu và xây dựng đời sống ra sao; không biết nên báo cáo cái gì trước, cái gì sau?

Sáng hôm đó, xe đưa anh Lê Quảng Ba và tôi vào Phủ Chủ tịch. Anh Ba và tôi vào phòng đợi. Tôi chưa kịp ngồi xuống ghế, Bác đã từ trên thang gác nhanh nhẹn bước xuống và hiện ra trước mắt tôi hiền từ, đẹp như một ông Tiên.

Anh Lê Quảng Ba giới thiệu tôi với Bác, Bác thân mật bắt tay và hỏi thăm sức khỏe của tôi. Những lời thăm hỏi đầy tình nghĩa của Bác làm tôi không nén nổi xúc động.

Bác mời chúng tôi ăn chuối và cam, những trái cây tự tay Bác trồng trong vườn, cũng là những thứ tôi thích nhất. Bác lo bao việc lớn lao mà còn biết cả cá tính của tôi. Chắc Bác đã thấu hiểu tấm lòng của dân tộc Tây Nguyên hết rồi. Tôi càng bồi hồi xúc động, vì lần đầu tiên được gặp Bác và được hưởng cái vinh dự to lớn này.

Bác ân cần hỏi thăm tình hình chiến đấu, đời sống và sức khỏe của nhân dân các dân tộc.

Tôi thưa với Bác:

- Nhân dân các dân tộc ở Tây Nguyên, cũng như ở miền Tây, các tỉnh miền Nam thiếu thốn đủ mọi thứ. Muối chưa đủ mặn, cơm chưa đủ no, áo chưa đủ mặc... Nhưng truyền thống đoàn kết chiến đấu bất khuất bảo vệ Tổ quốc thì không nghèo. Nhân dân Tây Nguyên chiến đấu không sợ gian khổ, hy sinh mà chỉ sợ mình mất cái đất làm ăn của ông, cha để lại đó thôi.

Trong cuộc gặp gỡ này, tuy thời gian không được lâu lắm, nhưng tôi thấy rằng Bác hiểu thấu tấm lòng của nhân dân Tây Nguyên. Bác biết rất cụ thể và nói:

- Nhân dân các dân tộc Tây Nguyên nhất định sẽ giành được thắng lợi.

Tôi mạnh dạn thưa Bác:

- Đồng bào Tây Nguyên còn nghèo lắm, nghèo cả cán bộ nữa. Muốn xin Bác Hồ có nhiều cán bộ giỏi ạ.

Bác cười và nhẹ nhàng hỏi lại tôi:

- Đồng bào ta có nuôi gà không?

- Thưa Bác, đồng bào nuôi nhiều gà lắm.

- Đồng bào nuôi nhiều gà như thế là tốt. Lần này gà đẻ năm trứng, lần sau sáu trứng, mười trứng, rồi nở thành con. Chính những con gà đẻ và nở trong vùng ấy mới thích hợp với hoàn cảnh ở đó.

Lúc đầu tôi tưởng Bác nói chuyện con gà thật. Nghe nói vậy, anh Lê Quảng Ba nhìn tôi cười. Lát sau tôi mới hiểu câu chuyện nuôi gà của Bác là phải đào tạo, bồi dưỡng những cán bộ tại chỗ. Cứ mỗi năm có một, hai cán bộ đi làm việc, nhiều năm sẽ có nhiều cán bộ gương mẫu, hiểu tâm tư nguyện vọng của dân tộc mình.

Chuyện nuôi gà của Bác Hồ thiết thực quá. Lâu nay chúng tôi có nghĩ đến nhưng chưa được sâu sắc. Qua câu chuyện, Bác nhắn lại với chúng tôi nội dung chính sách dân tộc của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam là kiên nhẫn, thận trọng, chắc chắn, phải vừa chiến đấu vừa xây dựng đội ngũ chiến đấu. Lấy phương châm tự lực cánh sinh là chính.

(Đồng chí Y-bi A-lêu, người thành lập Phong trào dân tộc tự trị Tây Nguyên; nguyên Phó Chủ tịch Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam kể, trích trong cuốn Bác Hồ sống mãi với chúng ta, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005).

17. Bác Hồ chăm sóc cán bộ

Tháng 02 năm 1941, Bác Hồ về Pác Bó, để trực tiếp chỉ đạo phong trào và bồi dưỡng cán bộ, Bác cho một số cán bộ huyện Hà Quảng (Cao Bằng) đang hoạt động bí mật ở cùng với Bác. Ngoài các đồng chí Phùng Chí Kiên, Vũ Anh, Đặng Văn Cáp v.v.. đi theo Bác, lúc này trong hang có thêm các đồng chí Lê Quảng Ba, Hoàng Sâm, Thụy Hùng, Đức Thanh và tôi (tức đồng chí Hoàng Tô).

Hồi ấy, đồng chí Lê Quảng Ba và đồng chí Hoàng Sâm phụ trách bảo vệ cơ quan Bác và tổng Lục Khu. Còn tôi thì được phân công trực tiếp phụ trách tổng Hà Quảng (gồm các xã Sóc Hà, Nà Sắc và vùng mỏ Sắt bấy giờ), kiêm nhiệm vụ kiểm tra tổng Thông Nông.

Trước khi chúng tôi đi xuống cơ sở công tác, bao giờ Bác cũng bảo báo cáo chương trình, kế hoạch cụ thể cho Bác nghe. Bác bổ sung thêm rồi bảo chúng tôi nhắc lại thật đúng rồi mới cho đi. Do đó, bọn tôi rất vững dạ, như người đi rừng có địa bàn trong tay.

Cứ mỗi lần có đồng chí rời hang đi công tác là Bác lại lo lắng: Lo sao anh em được bình yên trở về, thoát khỏi mọi sự bất trắc dọc đường. Khi thấy anh em về, Bác vui hẳn lên. Câu đầu tiên Bác nói là hỏi han sức khoẻ, sau đó tuyên bố cho anh em nghỉ ngơi, tắm giặt, rồi mới làm việc. Lúc ấy, phong trào đang lên, công việc rất nhiều, nên anh em chúng tôi không ai muốn nghỉ, đợi được báo cáo tình hình, xong là đi ngay, nhưng Bác bắt phải nghĩ ngơi để đảm bảo sức khỏe.

Thỉnh thoảng đi công tác về, chúng tôi lại được Bác cho quà, quà chỉ là những cái kẹo bé tý nhưng đầy ắp sự ân cần, yêu thương. Hỏi đồng chí Cáp mới biết đó là quà của nhân dân Pác Bó đi chợ mua về biếu Bác. Bác chỉ ăn một, hai cái. Còn bao nhiêu gói lại, cất vào ống tre, Bác bảo:

- Để dành cho các chú đi công tác về ăn.

Quà Bác tuy nhỏ, nhưng cử chỉ của Bác là cả một tình thương, có sức động viên chúng tôi rất lớn. Mỗi lần đi công tác lâu ngày mới về, bao giờ Bác cũng dặn đồng chí cấp dưỡng cố gắng tìm mua thức ăn về “thết tiệc” cho anh em. Gọi là tiệc, nhưng chỉ thêm vài miếng thịt lợn luộc chấm muối.

Ở hang, nhưng hàng ngày Bác vẫn giữ đúng giờ giấc. Đến giờ, nếu ai ngủ chưa dậy thì Bác khẽ đánh thức. Song, đối với anh em chúng tôi mới đi công tác về, Bác bảo anh em khác phải im lặng, giữ ý từng bước chân, để chúng tôi được ngủ thêm một lúc.

Tôi còn nhớ một lần, đồng chí Đức Thanh đi công tác về bị ốm, nằm liệt giường. Bác buồn lắm. Bác bảo đồng chí Cáp vào rừng lấy lá thuốc về cho đồng chí Thanh uống và xông. Chốc chốc Bác lại đến sờ trán đồng chí Đức Thanh.

Ngồi làm việc ở một góc hang, tôi im lặng theo dõi từng cử chỉ của Bác. Nhìn nét mặt lo âu của Bác, tôi lại nhớ đến lúc còn bé, bị ốm chốc chốc mẹ lại sờ trán tôi, nét mặt vui buồn đều gắn vào độ nóng, lạnh trong người tôi truyền qua bàn tay răn reo của mẹ. Cử chỉ của Bác trong lúc này chẳng khác dáng dấp của mẹ tôi khi xưa.

Những tình cảm sâu sắc của Bác đối với chúng tôi hơn ruột thịt, đã động viên chúng tôi vượt qua mọi khó khăn gian khổ những năm tháng sống trong hang giữa rừng Pắc Bó.

(Hoàng Tô, nguyên Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Khu tự trị Việt Bắc kể lại trong tập sách Bác Hồ sống mãi với chúng ta, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005).

18. Cái vòng bạc

Dạo đó, do điều kiện công tác, sau hơn 2 năm, Bác Hồ mới có dịp trở lại một vùng cơ sở trước đây Người đã từng sống và làm việc. Thấy Bác về, bà con già, trẻ, gái, trai khắp bản, người đang vác ống nước dưới suối lên cũng tạm dựng ống bương bên đường, ùa ra đón Bác.

Trong số những người đứng vây quanh Bác lớp trong lớp ngoài hôm ấy có một em bé 2 năm trước đã từng quấn quýt bên Bác khi Người ra suối câu cá, hoặc lên nương cuốc đất trồng rau sau những giờ làm việc. Ngày Bác lên đường đi công tác xa, em bé đó theo ra đến đầu bản tiễn Bác. Trước lúc chia tay, Bác cúi xuống hôn má em và Người chưa kịp hỏi gì thì đã nghe em bé nói một câu rất tự nhiên:

- Đến đâu thấy vòng bạc, Bác nhớ mua cho cháu một cái.

Đối với em bé dân tộc miền núi Cao Bằng, được cái vòng bạc đeo cổ tay là điều rất thích thú. Bây giờ em bé đó đã qua tuổi nhi đồng, chững chạc, được học, đã biết đọc, biết viết, không còn vòi vĩnh, nũng nịu như ngày được bên Bác (Em bé cũng không còn nhớ là mình đã dặn Bác Hồ mua cho cái vòng bạc).

Bà con dân bản tiễn Bác lên đường đi công tác cách đây 2 năm cũng đã quên chuyện “Cái vòng bạc” ấy. Sau những lời chúc mừng thăm hỏi sức khoẻ dân bản, nhận ra em bé ngày trước đứng trong đám đông, Bác bước đến, từ từ mở nắp túi áo trước ngực, lấy ra chiếc vòng bạc mới tinh và trao cho em bé.

Ngỡ ngàng giây lát, rồi nhớ ra lời dặn Bác 2 năm trước, em bé sung sướng quá, không giấu nổi xúc động, hai mắt cứ chớp mãi, líu cả lưỡi mới nói được:

- Cháu... cảm... cảm ơn Bác!

Một số bà con không có mặt hôm tiễn Bác lên đường đi công tác ngày trước, nay thấy vậy lấy làm ngạc nhiên và hỏi đồng chí giúp việc của Bác. Đồng chí này kể lại cho mọi người nghe là trên đường về Bác đã ghé vào một cửa hàng mua chiếc vòng bạc. Đồng chí giúp việc hỏi, Bác giải thích như sau:

- Các cháu khi đã nhờ mua cái gì tức là chúng nó thích cái đó lắm. Thấy có hại thì tìm cách giải thích cho các cháu hiểu; nếu không có hại thì không nên từ chối. Các cháu như tờ giấy trắng nhuộm đỏ thì đỏ, nhuộm xanh thì xanh, đừng để giảm lòng tin của các cháu. Đã hứa là mình phải làm cho kỳ được, không làm được thì đừng có hứa. Đây là chữ Tín, cần giữ trọn lòng tin của mọi người.

(Hoàng Giai kể, trích theo cuốn Ai yêu các nhi đồng bằng Bác Hồ Chí Minh, Nxb. Thanh niên, Hà Nội, 1999)

18. Không ai thương mình như Bác

Bác sống như thế nào với những người ở gần Bác, những anh em phục vụ, thổi cơm, lái xe, bảo vệ Bác? Khi Bác mất rồi, anh em họp lại, bao nhiêu người chỉ có một ý, một lời về Bác: Không có ai thương yêu mình như Bác. Không có ai đối xử với mình rộng lượng, bao dung và đầy tình nghĩa như Bác. Không có ai dạy bảo ân cần, chính xác, theo dõi sát sự sửa chữa các thiếu sót của mình như Bác. Không ai tôn trọng nhân cách con người mình như Bác.

Có lần Tỉnh ủy Quảng Ninh biếu Bác một cành san hô to, đẹp lắm, màu sắc trắng hồng như ngọc. Bác thích lắm dùng làm quà biếu người lãnh đạo một Đảng anh em. Cành san hô để ở nhà khách Phủ Chủ tịch, chờ Bác ra xem lần chót rồi bỏ vào hòm, ô tô đợi sẵn, chở ra sân bay, gửi đi. Lúc để ở nhà khách, anh em xúm lại xem. Anh này sờ, anh kia sờ xô đẩy thế nào đó, một anh lỡ tay đánh rơi, vỡ làm đôi. Mọi người sợ quá. Không còn cách gì để chữa lại được nữa. Bác ra đến nơi rồi. Có thì giờ cũng chẳng kiếm được cành san hô thứ hai như thế. Nhất định lần này Bác mắng và Bác thi hành kỷ luật cũng là đúng. Sợ đến mức không dám đứng đấy mà nhận lỗi của mình nữa. Bác ra, Bác cũng bị bất ngờ. Bị bất ngờ như thế nhưng một nét nhíu lông mày Bác cũng không có, một lời nói nặng càng không có nữa. Bác làm vui trước cho anh em. Cũng như trong mọi trường hợp. Bác chủ động làm vui trước chứ không chờ người ta làm vui cho mình. Bác biết là anh em sợ lắm, làm thế nào trấn tĩnh được tinh thần anh em. "Thôi, phận san hô nó mỏng manh, con san hô về đất rồi. Anh em đi đâu, gọi các chú ấy ra đây. Bây giờ Bác, cháu ta tính thế nào nhỉ, lại đây cùng nhau bàn xem gỡ cái chuyện này thế nào". Cuối cùng phải lấy một bức ảnh to của Bác, Bác đề tặng và ký vào gửi biếu. Người lỡ tay đánh vỡ con san hô thấy Bác độ lượng như vậy, cảm động, giàn giụa nước mắt.

Nhưng mà câu chuyện chưa hết. Đến buổi tối hôm đó, làm việc với đồng chí phụ trách văn phòng xong, Bác bảo: "Hôm nay còn thừa thì giờ, bây giờ chú kể cho Bác nghe cành san hô ấy bị vỡ thế nào?". Đồng chí này kể lại từ đầu. Bác phát hiện chi tiết này: Người đánh vỡ là đồng chí lái xe. Bác bảo: "Thế này nguyên nhân không phải là lỡ tay… Nguyên nhân ở trong tổ chức và nếp làm việc, không phải ở chỗ lỡ tay. Nói lỡ tay là nói qua loa cho xong. Nếu chú thấy đúng như thế, lần nào họp, anh em bàn lại chuyện này rút kinh nghiệm, sửa đổi đi. Bảo là lỡ tay, đến lần sau, có cái tặng phẩm đẹp lại xúm vào xem, lại xô, lại đẩy, lại rơi vỡ lần nữa, lại lỡ tay lần nữa". Bác là như thế. Một sai sót nhỏ cũng không bỏ qua, rút kinh nghiệm để sửa chữa. Nhưng vẫn không nói nặng một lời nào.

Khi Bác tiếp khách, khách nước ngoài cũng thế, khách trong nước cũng thế, để tự anh em, thì khi rót nước xong bưng ngay chén nước đầu tiên đặt trước Bác rồi mới đưa cho người khách. Bác cứ điềm nhiên như không. Lúc nào đó, Bác, cháu ở nhà, Bác mới bảo: "Này các chú ạ, Bác, cháu ta làm ở trong nhà, ta là chủ. Các bạn nước ngoài đến, hay các cô, các chú đến làm việc, là khách. Ta đãi khách. Lần sau các chú rót xong nước thì đưa cho tất cả khách trước và đưa Bác sau, không phải đưa Bác trước đâu".

Đối với anh em, Bác chú ý từ cái nhỏ. Anh em nói: "Không cứ cuộc sống của mình. Một của cải nhỏ mình làm ra, Bác cũng chăm lo". Anh em có trồng được mấy cây chuối, có một buồng đã khá to. Bác nghe trên đài ngày mai có gió cấp năm. Thế là Bác xuống sàn gỗ bảo:

- Bác vừa nghe đài báo ngày mai có gió to. Buổi sáng Bác đi, Bác thấy buồng chuối phía đằng sau của các chú đã nặng. Anh em tìm cách mang gậy ra chống kẻo khi gặp gió to nó gẫy mất.

Đối với anh em có gia đình ở nông thôn, Bác bảo:

- Bây giờ các chú làm được đồng lương đừng nghĩ rằng tiền mình làm ra là mình ăn hết đâu. Phải nghĩ đến nông thôn. Đời sống nông thôn bây giờ gay lắm. Phải dành tiền tiết kiệm gửi về cho các cô, các cháu. Các chú ăn ở đây theo khẩu phần lương thực thế này, mùa hè có thể không hết. Phải biết khéo tổ chức, định từng bữa thổi từng nào cơm. Thừa được phiếu nào, tháng ba, ngày tám đứt bữa, gửi gạo về giúp gia đình.

Các đồng chí gác ở nhà sàn gỗ của Bác kể: Một lần khoảng độ gần 12 giờ trưa, Bác có việc gì xuống khỏi nhà sàn gỗ hoặc Bác đi đâu về, nhìn thấy người công an trẻ đứng gác gần đấy. Bác biết giờ gác của anh em từ 10 giờ đến 12 giờ. Trước khi gác chưa ăn cơm. Gần 12 giờ rồi. Anh em thường là trẻ khỏe, làm nhiều việc, rồi lại còn gác đêm. Bác đến hỏi:

- Cháu có đói không?

Thường Bác gọi là "chú". Khi nào Bác gọi "cháu" là thương lắm.

- Để Bác biếu cái này.

Thế là Bác lên nhà sàn gỗ, lấy một quả chuối ăn tráng miệng của Bác bữa vừa rồi, Bác giữ lại, xuống đưa:

- Bác biếu, cháu ăn đi.

(Việt Phương, nguyên Thư ký của Thủ tướng Phạm Văn Đồng kể, đăng trên Báo Nhân Dân, ngày 15 - 17/5/1995)
Trang 5 / 11
20. Bài học dựa vào dân

Đầu năm 1950, Đoàn đại biểu Đảng - Công đoàn Nam Bộ được đến chào Bác cùng các vị trong Ban Thường trực Quốc hội và Chính phủ. Chúng tôi được chụp ảnh chung với Bác. Khi từ Sài Gòn ra, tôi đang là Trưởng ban cán sự nội thành Sài Gòn. Đây là lần đầu tiên tôi được gặp Bác Hồ.

Trong thời gian còn ở Việt Bắc, có lần tôi được đi theo các anh Phạm Hùng và Võ Nguyên Giáp đến Nhà sàn của Bác ở An toàn khu Sơn Dương. Trong buổi nói chuyện, tôi thấy Bác đặc biệt chú ý tới tình hình miền Nam. Khi tôi có ý định xin tiền của Trung ương, Bác cười và bảo:

- Trung ương không có tiền, mà chỉ cấp tiền để cho các chú đi và về thôi. Các chú phải dựa vào dân. Nếu chú có một que diêm nhưng biết cách thì cũng có thể đốt cả một cánh đồng. Còn nếu có cả mồi lửa to nhưng không biết cách thì cũng không châm lên được.

Bác muốn nhắc nhở: Phải tuyệt đối tin ở dân, dựa vào dân để kháng chiến.

Do yêu cầu cấp bách của tình hình Nam Bộ nên tháng 3-1950, Trung ương cử đồng chí Phạm Hùng cùng một số đồng chí khác trong đó có tôi trở về miền Nam. Năm 1954, sau khi Hiệp định Giơnevơ được ký kết, tôi được trở ra Bắc nhận công tác mới. Năm 1960, tại Đại hội lần thứ III của Đảng Lao động Việt Nam, tôi được bầu làm Ủy viên Trung ương Đảng. Từ đó về sau, trong các cuộc họp của Trung ương, tôi thường được gặp Bác hoặc được Bác hỏi chuyện một cách thân mật, ân cần.


Đầu tháng 02 năm 1965, nhân dịp Tết Nguyên đán, Bác về thăm và chúc Tết đồng bào, bộ đội, cán bộ và công nhân tỉnh Quảng Ninh. Lúc đó, tôi đang làm Bí thư Khu ủy Quảng Ninh. Khi xe đến phà Bãi Cháy, chờ mãi không thấy phà sang, Bác nói:

- Thôi, ta đi đò qua Bãi Cháy.

Trên đò, nhìn thấy một em bé cõng bạn bị liệt đi học, tôi liền thưa với Bác, Bác gật đầu, nhìn em bé nhưng không nói gì. Lên đò, trên đường đi bộ về khách sạn Du Lịch, Bác nói với tôi:

- Vừa rồi, chú khen cháu bé trước mặt Bác như vậy sẽ làm cho cháu chủ quan.

Bác nói từ tốn, nhưng qua câu nói đó, tôi cũng rút ra được bài học cho mình là nên khen ngợi một cách vừa phải, kín đáo và tế nhị, tránh để cho người được khen dễ sinh ra tự mãn, kiêu căng.

Ngày 30 Tết Nguyên đán năm Ất Tỵ, tôi cùng Bác đi ca nô trên Vịnh Hạ Long để chúc Tết đồng bào. Đến Đông Triều, Bác cùng chúng tôi vào một trường học ăn trưa. Lúc đi có cả vợ con tôi. Trong bữa ăn, Bác gắp thức ăn cho vợ tôi. Lần sau gặp tôi, Bác nói:

- Chú làm ngoại giao, khi ăn có phụ nữ thì phải tiếp thức ăn cho họ.

Qua đó tôi thấy được sự quý trọng và xử sự rất văn minh của Bác đối với phụ nữ.

Tôi còn nhớ hồi còn ở Thành ủy Hà Nội, tôi được cùng tham gia buổi Bác duyệt bản quy hoạch thành phố Hà Nội. Hiện nay, bức ảnh chụp Bác đang xem bản quy hoạch tôi vẫn còn giữ trong cuốn sổ album của tôi. Sự kiện này làm tôi nhớ mãi, vì lú đó có một đồng chí trong Trung ương đề nghị Bác là nên xây dựng Văn phòng Trung ương Đảng ở nơi khác, đẹp hơn chỗ hiện nay, là trường học của Anbexarô. Nghe thấy thế, Bác trả lời:

- Văn phòng Trung ương như thế là được rồi.

Sau khi im lặng một lúc, Bác hỏi:

- Thế các chú có biết Văn phòng Trung ương xây dựng ở chỗ nào thì tốt không?

Mọi người nhìn nhau, Bác chỉ tay vào ngực mình và nói tiếp:

- Xây ở trong này, trong lòng nhân dân là tốt nhất.

Bác muốn dạy cho chúng ta hiểu rằng, Đảng và nhân dân là một. Đảng phải luôn được nhân dân yêu mến và bảo vệ.

Trên đây là một số mẩu chuyện và sự kiện mà tôi còn nhớ. Những câu chuyện mà tôi có vinh dự được gần Bác, gặp Bác và được Bác ân cần chỉ bảo những điều bổ ích. Giờ đây, trên cương vị là Trưởng ban Ban Thi đua của Trung ương Đảng, tôi luôn luôn cố gắng học tập đức tính của Bác là quan tâm đặc biệt tới phong trào thi đua của quần chúng nhân dân.

Những lời dạy của Bác đã và sẽ mãi mãi là kim chỉ nam cho mọi hành động trong công tác của tôi.

(Nguyễn Thọ Chân kể, trích trong cuốn Bác Hồ sống mãi với chúng ta, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005)

21. Những lời Bác dạy đầu tiên

Mùa Thu năm 1946, tôi và ba đồng chí nữa được vinh dự theo Bác về nước trên chiếc tàu Đuymông Đuếvin. Tàu này là một chiếc tàu chiến đã cũ, chạy lừ đừ chậm chạp. Lúc bấy giờ, tình hình ở trong nước đang căng thẳng ai nấy đều sốt ruột mong về sớm, nhưng giờ đây nghĩ lại, đối với chúng tôi, đó là một dịp may hiếm có để được kéo dài những ngày chung sống với Bác.

Trên chuyến xe lửa từ Pari đi Macxây, Bác nói:

- Nước ta còn nghèo vì 80 năm bị đế quốc bóc lột, chiếm đóng. Đồng bào Nam bộ giờ đây còn đổ máu. Chúng ta còn gian khổ chiến đấu nhiều chứ chưa được sung sướng ngay đâu. Các chú về nước chính là để phục vụ Tổ quốc, phục vụ đồng bào…

Lên tàu rồi, một hôm Bác dặn:

- Ở nhà không có gì đâu. Nước ta thiếu máy móc, nguyên liệu, thiếu cả thợ lành nghề, tiền của ta lại ít. Song nước ta giàu về rừng núi, sông biển, đồng bào ta giàu về quyết tâm, dũng cảm và sáng tạo. Các chú về phải chịu thương, chịu khó làm ăn, đưa những cái đã học ở nước ngoài về áp dụng thiết thực vào trong nước, giúp đỡ và hướng dẫn anh em trong nước cùng làm.

Tôi còn nhớ lúc đi tàu, thỉnh thoảng có những hôm tên đại tá chỉ huy tàu tổ chức tập trận giữa biển cả mênh mông, tiếng súng đại bác, súng máy các loại thi nhau gầm thét, khói mịt mù, nước biển tung tóe ngoài khơi. Trong chúng tôi, thoạt tiên cũng có người hồi hộp, nhưng riêng Bác vẫn điềm nhiên, ung dung hút thuốc lá, đứng xem. Bác mỉm cười bảo chúng tôi:

- Đấy, người ta thử kiểm tra tinh thần của các chú. Các chú có sợ không?

Nhân đó, Bác chỉ cho chúng tôi thấy bọn đế quốc thường hay phô trương, khoe khoang về sức mạnh vật chất, còn nhân dân cách mạng tuy nghèo nhưng hàng triệu người đoàn kết thành một khối, có tinh thần dũng cảm và mưu trí, nhất định đánh bại được bọn chúng…

Tại Đại hội liên hoan Anh hùng chiến sĩ thi đua toàn quốc lần thứ nhất, tôi được Bác khen…

Vinh dự đó thuộc về anh em ngành quân giới trong đó tôi nhờ sự chỉ bảo, dẫn dắt của Bác đã đóng góp một phần.

Những lời dạy của Bác như bức cẩm nang quyết định mọi thắng lợi trong công tác của tôi.

(Theo Thiếu tướng Trần Đại Nghĩa, đăng trên báo Hậu Giang, số 395 ngày 30/3/2007)

22. Một lần được gặp Bác Hồ

Bữa cơm đêm hôm ấy, chúng tôi cùng ăn chung. Bác Hồ bảo không nên dùng nghi lễ, hãy để tất cả các đĩa thức ăn trên bàn không cần phải đưa từng đĩa một. Bác nói: “Cái gì tôi thích thì tôi lấy, cái gì anh thích thì anh lấy, như ở nhà mình”.

Bác Tukimin có nhiệm vụ xem xét, phục vụ lúc ăn uống cũng được Người kéo vào và bảo ngồi cùng ăn.

Ăn xong, đột nhiên Bác Hồ yêu cầu tôi đưa Người đi dạo phố mà không cần bảo vệ. Tôi được bỏ quân phục và tất cả phù hiệu.

Tất nhiên là tôi ngạc nhiên và tự hỏi: Tại sao Người lại tin cậy chúng tôi, những người mà Người chưa hề quen biết đến như thế?

Tôi nghĩ: Chắc là vì Người rất tin tưởng vào bản thân mình. Nhưng tôi cũng cảm thấy sung sướng khi được Bác Hồ tin cậy. Đúng là khi được nhận trách nhiệm và được tin cậy thì ai cũng rất sung sướng.

Chúng tôi đưa Bác Hồ đi xem những cái tốt đẹp của thành phố Giacácta, và chúng tôi cũng không thấy thẹn khi đưa Người đi xem những cái chưa tốt, vì tôi nghĩ phải chăng Người là một nhà cách mạng, một chiến sĩ, tất biết rõ việc xây dựng phải khó khăn biết bao nhiêu, tất biết rõ nhân dân và yêu cầu của nhân dân.

Lúc nhìn sông Gilirung, tôi xấu hổ khi thấy nhân dân tắm ở đấy, và giặt quần áo cũng ở đấy. Trong thâm tâm tôi chỉ muốn cho vị khách quý xem những cái tốt đẹp, nhưng lại gặp những sự thật đắng cay.

Hình như Người đoán được điều tôi đang suy nghĩ, Người liền nói: “Thay đổi tình hình và xây dựng quả không thực hiện được trong thời gian ngắn, không thể thay đổi tình hình trong một đêm như làm ảo thuật. Cần phải có tính nhẫn nại cách mạng. Miễn là chúng ta không quên rằng cách mạng không chỉ để giành độc lập chính trị mà còn phải nhằm mục đích và phải thu kết quả cho đời sống nhân dân. Nhân dân phải được ăn nhiều hơn, mặc đẹp hơn, sống hạnh phúc hơn. Nếu không, thì cách mạng không có ích gì”.

Đêm hôm ấy, một đêm đầy sao, tôi nói chuyện với vị lão thành ấy về chiến tranh du kích, về sự dã man của quân thù, quyết tâm và hy sinh của nhân dân, hoài bảo và lý tưởng chung của chúng tôi.

Đêm hôm ấy, ranh giới hai hàng rào ngăn cách đều bị xóa hết đối với tôi. Tôi không còn cảm thấy Người là Chủ tịch Hồ Chí Minh, một người Việt Nam nữa, mà chỉ như một chiến sĩ giản dị có thể xem như một người Cha, một người chỉ huy và một người bạn, không còn là một người nước ngoài nữa.

Quả là những lý tưởng có thể đạt tới một xã hội công bằng và phồn vinh có thể thắt chặt lòng người này với người khác. Chủng tộc hay dân tộc không quan trọng, điều quan trọng là những lý tưởng. Bây giờ, tôi mới hiểu tại sao trong những ngày sau đó, Bung Cácnô và Bác Hồ lại có mối quan hệ với nhau chặt chẽ, thoải mái và thân thiết đến thế.

Đêm chia tay ở Mê Đăng, tôi và bạn tôi được gọi lại, Người nói: “Tôi cảm ơn tất cả các bạn, vì nhờ tất cả các bạn mà cuộc đi thăm của tôi thành công. Tôi thực sự cảm thấy như giữa anh em trong nhà; mong rằng cuộc đấu tranh của các bạn thành công. Để làm kỷ niệm, tôi tặng các bạn những vật này: Một tấm hình và Huy hiệu chiến dịch Điện Biên Phủ, không phải mọi người đều được Huy hiệu này, mà chỉ những người thực sự tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ mới có”.

Tôi đáp lại với Người rằng bảo vệ và phục vụ Người đối với chúng tôi là một vinh dự, tôi đã học được nhiều. Tôi đã học được rằng: Người ta phải làm, phải nghĩ và phải sống như thế nào để được xứng đáng là người lãnh đạo. Những điều tôi thu nhập được là rất quý báu.

Tôi là vệ sĩ của Bác Hồ, nhưng ngược lại chắc rằng Bác Hồ là người che chở tôi, nếu như có xảy ra chuyện gì.

(Trích trong “120 chuyện kể về tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”)

23. Bác soi sáng cho tôi con đường đi lên phía trước

Một niềm xúc động và tự hào lớn đã đến với tôi vào giữa năm 1946. Đó là lúc tôi thấy Bác Hồ lần đầu tiên ở sân bay Buốc-giê, khi Bác đến Pari để đàm phán về hòa bình ở Việt Nam. Bác ung dung tươi cười trong bộ ka-ki giản dị, giữa đám đông quan chức cao cấp và tướng tá thay mặt Chính phủ Pháp mặc lễ phục lỗng lẫy đến đón Bác. Bác đã lên xe đi xa rồi, tôi còn đứng lại để ngắm lá Quốc kỳ rộng lớn màu đỏ sao vàng tung bay trước gió, trên đỉnh cao chót vót của đài chỉ huy sân bay. Điều này làm tôi phấn khởi và suy nghĩ nhiều. Hồ Chủ tịch đã tạo ra một quá trình lịch sử mới, đưa nước ta từ chỗ tối tăm đến chỗ quang vinh. Là một Việt kiều lâu năm ở Pháp, tôi cảm thấy mình đã tìm ra lẽ sống và niềm tin tưởng, tự hào về Tổ quốc mình. Công lao của Hồ Chủ tịch thật như trời biển.

Tôi được gặp Bác lần cuối ở Pháp, trong một bữa cơm thân mật tại nhà một đồng chí công nhân già. Lúc này hội Phông-ten-nơ-blô đang bế tắc. Nhưng Bác cởi mở, lạc quan và chủ động biết bao Bác hướng chúng tôi nghĩ về tương lai và dặn: “Các chú cố gắng để nhanh chóng có một nghề vững vàng, khi có điều kiện là về giúp nước!”. Mặc dù có những khó khăn trước mắt, Bác vẫn nhìn thấy vầng ánh sáng rực rỡ của ngày mai… Cuối tháng 7 năm 1950, tôi trở về nước và may mắn lại được gặp Bác ngay. Bác đang trên đường đi công tác và chỉ dừng lại vài phút để cho tôi gặp. Bác căn dặn: “Chú là cán bộ kỹ thuật, cán bộ sản xuất. Làm việc gì cũng phải cân nhắc xem chủ trương có thiết thực không, có phục vụ bộ đội đánh giặc không? Phải dựa vào công nhân, cùng nhau khắc phục khó khăn để tiến lên, phải tập trung cố gắng vào một số mục tiêu nhất định mới có kết quả tốt…” Bác đi rồi, mắt tôi vẫn nhìn theo Bác, trong bộ quần áo nâu giản dị, trên mình con ngựa nâu khuất dần sau rặng cây rậm rạp… Bác đi đâu? Hơn một tháng sau, tin chiến thắng oanh liệt của quân ta ở vùng biên giới Cao - Bắc - Lạng đã trả lời tôi điều đó. Lúc này, Bộ Công Thương cử tôi phụ trách Nha Công nghiệp. Nhà máy Trần Hưng Đạo tập trung lực lượng làm hàng vạn dao rựa và hàng nghìn chiếc cân treo phục vụ việc làm nương của đồng bào rẻo cao theo chỉ thị của Bác Hồ. Chúng tôi rất lo vì khó khăn có nhiều. Nhưng hình ảnh Bác trên lưng ngựa đi công tác khắp nơi lại hiện ra trước mắt tôi. Bác đi đến đâu là ở đấy có thêm thắng lợi. Chúng tôi càng tin tưởng và quyết tâm đạt bằng được kế hoạch sản xuất.

Bác hiểu rất rõ tâm tư, tình cảm ý nghĩ của cán bộ kỹ thuật và thường chỉ bảo, động viên rất tận tình. Đầu năm 1955, tôi xuống xã Chí Chủ theo bà con nông dân đi làm đất để chuẩn bị vụ khoai. Mới nửa giờ lao động, bàn tay tôi đã sưng lên, cái vồ gỗ chẳng đập vỡ được những hòn đất rắn như đá. Trời lâu không mưa, đồng ruộng nứt nẻ, dòng nước sông Thao cứ chảy xiết về xuôi mà không làm mát được đất đai và lòng người Chí Chủ. Lúc này tôi mới thấm thía ý nghĩa thủy lợi là biện pháp hàng đầu và sự cần thiết phải có máy bơm nước. Năm 1961, Đảng giao cho tôi và một nhóm cán bộ công nhân nhà máy Trần Hưng Đạo nghiên cứu chế tạo máy nổ đi-ê-den để phục vụ bơm nước, tôi đã đem hết sức mình cùng anh em hoàn thành sớm máy nổ 20 ngựa đầu tiên. Máy này được triển lãm ở Hội nghị lần thứ bảy của Trung ương Đảng. Bác gọi tôi lên hỏi:

- Còn những bộ phận nào các chú chưa làm được?

- Thưa Bác, còn bơm cao áp và vòng bi.

- Cần tiếp tục cố gắng hơn nữa. Rồi Bác vừa nói vừa cười: Chú có bảo đảm là máy này không phải chủ là “Máy triển lãm” không?

- Chúng cháu xin bảo đảm bảo với Bác rằng chúng cháu sẽ sản xuất hàng loạt để phục vụ nông nghiệp trong năm nay.

- Vậy Bác chờ bà con nông dân có ý kiến đã, rồi Bác sẽ có ý kiến vào cuối năm.

Tôi về truyền đạt lại với nhà máy ý kiến của Bác. Anh em rất phấn khởi, bàn nhau chuẩn bị thật khẩn trương để sản xuất hàng loại một trăm máy với chất lượng tốt. Cuối năm, chúng tôi sản xuất được hơn 150 máy. Bà con nông dân rất hoan nghênh, Bác thưởng nhà máy Huân chương Lao động hạng Nhất. Trong Hội nghị chính trị đặc biệt cuối tháng 3 năm 1966, tôi lại được vinh dự gặp Bác.

Qua hơn 20 năm phục vụ cách mạng, tôi may mắn gặp Bác Hồ kính yêu trong những giờ phút có ý nghĩa của lịch sử dân tộc, bộ óc thiên tài của Bác soi sáng cho tôi con đường đi lên phía trước; trái tim vĩ đại của Người truyền cho tôi biết bao tình cảm cách mạng.

Tôi nguyện giữ mãi tình cảm cao quý đó, trọn đời ghi nhớ và làm theo những lới dạy bảo ân cần của Bác.

(Trích trong “120 chuyện kể về tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”)
Trang 6 / 11
24. Sự giản dị của Bác Hồ

Qua bao năm tháng bôn ba hải ngoại tìm đường cứu nước, Hồ Chủ tịch tích lũy được vốn kiến thức rất uyên thâm, kết tinh tinh hoa trí tuệ loài người, nhưng khi đến với cán bộ, quần chúng nhân dân, Bác đã chuyển hóa những kiến thức đó thành những câu chuyện nhẹ nhàng, dễ hiểu, rất bình dị và gần gũi.

Đầu năm 1946, có cuộc họp cán bộ từ Trung ương đến các địa phương. Bác đến thăm và nói chuyện, khi giải thích mối quan hệ giữa chính sách của Chính phủ với nhân dân thông qua đội ngũ cán bộ địa phương, Bác dùng một tấm bìa hình tam giác cân. Bác quay đáy tam giác lên trên, hướng đỉnh xuống dưới và nói, đây là chủ trương của Chính phủ (vừa nói Bác vừa chỉ tay dọc đáy trên của tấm bìa) có nhiều vấn đề lớn.

Rồi Bác chỉ tay xuống đỉnh tam giác phía dưới và nói, nhưng những chủ trương đó qua nhiều cấp, nhiều cán bộ yếu kém đến khi xuống dân thì bé lại chỉ còn chừng này. Sau đó, Bác lật tấm bìa đáy xuống dưới, đỉnh lên trên và giải thích, chiều đáy là nguyện vọng của nhân dân, có rất nhiều, rất phong phú được phản ánh từ cơ sở nhưng khi qua nhiều cấp, nhiều cán bộ thì chỉ còn bé chừng này, Bác chỉ tay vào đỉnh trên, xong Bác kết luận: “Vậy thì chúng ta phải làm gì để cho Chính phủ gần dân”. Ai dự họp cũng đều thấm thía lời dạy của Bác và tự tìm ra câu trả lời đúng với công việc của mình.

Cũng trong năm 1946, Nhà nước cách mạng non trẻ phải đối phó với nhiều kẻ thù trong giặc ngoài, bọn Việt cách, Việt quốc gây cho ta bao khó khăn, gian nan. Nhiều người lên yêu cầu Bác cho quét sạch chúng đi, Bác cười bảo: “Các chú giữ sức đánh Tây?”, rồi Bác giải thích “dòng nước đang chảy có cây gỗ chắn ngang, làm rác rưởi, lá cây đọng lại, các chú cứ vứt từng cái rác, từng cái lá thì không xuể mà phải tìm cách gạt cây gỗ đi thì dòng nước sẽ thông thoát”.

Trong thời kỳ kháng chiến nhiều cán bộ đi tuyên truyền về đường lối “trường kỳ kháng chiến”, khi nhân dân chất vấn “kháng chiến khi nào thành công?” nhiều người không giải thích được bèn về hỏi Bác. Bác bảo: “Các chú biết rằng đồng bào ta phần lớn là nông dân thì phải lấy hình ảnh cụ thể, để đồng bào dễ hiểu, các chú lấy chữ nghĩa, nào là “phụ thuộc”, “khách quan”, “chủ quan” thì dân ít người hiểu, mà phải lấy những ví dụ cụ thể như muốn có khoai ăn, lúa ăn cũng phải chờ đến 3 tháng hoặc 6 tháng mới có thu hoạch, người phụ nữ có thai cũng phải hơn 9 tháng mới sinh con. Khi đến với nhân dân, với đồng chí, Bác ở bên họ như người thân, không có sự cách biệt giữa lãnh tụ với dân. Con người Bác, phong cách Bác, tư tưởng Bác toát lên một chân lý dễ hiểu: dân dã mà thanh cao, cụ thể dễ hiểu mà uyên bác, tinh tuý.

(Thường San, đăng trên báo Hậu Giang số 382, ngày 28/2/2007)

25. Bác Hồ với gương người tốt, việc tốt

Một buổi sáng tháng 5 năm 1968, lãnh đạo của một số Nhà xuất bản ở Trung ương được Bộ Văn hóa - Thông tin báo tập trung lên gặp Bác Hồ. Ai nấy rất hồi hộp, sung sướng, song vẫn chưa rõ có chuyện gì.

Khi được đồng chí Hà Huy Giáp kể lại mọi người mới hay: Thì ra mới hôm trước, đồng chí Lê Văn Lương (lúc đó là Bí thư Trung ương Ðảng - vào thăm Bác, thấy Người đang cặm cụi ngồi viết bên một chồng tài liệu, liền hỏi:

- Thưa Bác, Bác đang làm gì đấy ạ ?

Bác chỉ chồng tài liệu, đáp:

- Ðã hơn mười năm nay, Bác thường xuyên theo dõi gương người tốt, việc tốt trên các báo... Họ đều là những người bình thường, làm những việc bình thường cho xã hội. Những việc bình thường ấy, ai cũng có thể làm được nếu cố gắng một chút. Và nếu ai cũng làm theo người tốt thì cái tốt sẽ thành phổ biến và xã hội ta sẽ tốt lên. Từ bấy đến nay, Bác đã tặng Huy hiệu cho gần bốn nghìn người. Bây giờ, Bác định viết lại những tấm gương này, in thành sách để giáo dục đạo đức mới cho nhân dân ta. Bác đang xem lại những tấm gương mà Bác đã chọn và cắt dán từ báo ra đây.

Ðồng chí Lê Văn Lương xúc động, thưa với Bác:

- Xin phép Bác giao việc này cho các nhà xuất bản.

- Thế thì được. - Bác vui vẻ đáp. - Vậy những ai làm việc này xin mời đến đây để Bác giao trực tiếp và dặn dò cho rõ.

Sau khi thăm hỏi từng người, Bác chỉ vào một chồng vở đã đóng sẵn để trên bàn:

- Ðây là những tập bài viết về người tốt, việc tốt mà Bác đã tặng Huy hiệu từ đầu năm 1956 tới nay. Các chú đem về chọn lọc và thẩm tra lại cho chính xác, rồi viết lại cho ngắn gọn, trong sáng, hấp dẫn, nhưng không hoa hòe, hoa sói. Sách soạn ra cần có đủ mọi thành phần trong nhân dân, như một vườn hoa nhiều hương sắc... Một vườn hoa mà toàn hoa hồng cả, dù rất đẹp, nhưng đơn điệu, phải không? Chú ý là phải in đẹp và bán rẻ, phải chọn người biên tập có đạo đức, có trình độ.

Nói xong, Bác để 18 tập vở có dán các bài báo người tốt, việc tốt vào một cái hòm gỗ cũ, trao cho mọi người. Trở về, ai nấy hăm hở bắt tay vào việc. Ðược vài hôm, đã thấy Bác điện hỏi: "Các chú dự định bao giờ xong bản thảo?" Ðồng chí Hà Huy Giáp thưa với Bác là đến tháng 7. Ðúng hẹn, đầu tháng 7, Bác điện nhắc mang bản thảo để Bác xem... Bác cầm tập của Nhà xuất bản Lao động, mở giữa tập, chỉ vào một bài, rồi bảo đồng chí Hà Huy Giáp:

- Chú đọc bài này xem sao.

Ðồng chí Hà Huy Giáp vừa đọc cái "tít", Bác đã giơ tay, ngắt:

- Sao lại "Người thủ kho liêm khiết"? Sao không viết: "Người giữ kho trong sạch"?

Bác nghe hết bài, lại nói tiếp:

- Có một số chữ trong bài như "dược phẩm", "xuất nhập" sao không viết là vị thuốc và mua vào, bán ra?... Thôi, đọc sang tập của Nhà xuất bản Quân đội xem thế nào?

Ðồng chí Hà Huy Giáp tìm đọc chuyện một anh bộ đội, chiến đấu bị thương nặng thủng bụng. Khi phẫu thuật (Bác nhắc: Sao không viết là "mổ") chiến sĩ nọ vẫn ngẩng đầu động viên bác sĩ... Bác nhận xét:

- Bị thương nặng thủng bụng còn ngẩng đầu động viên bác sĩ, liệu có đúng thế không? Có lẽ hư cấu, hoặc chưa đến nỗi thủng bụng, nói quá lên. Phải nói sao cho chính xác, hợp lý thì người ta mới tin, mới có tác dụng giáo dục. Còn cái đoạn anh bộ đội phất cờ để ra hiệu bắn, anh bị thương tay nọ sao không phất cờ bằng tay kia, mà lại đi buộc cờ vào tay gãy, có vẻ vô lý đấy... Nào, chú đọc sang bản thảo của Nhà xuất bản Kim Ðồng đi.

Ðó là chuyện hai em bé gái chăn trâu, mặc dầu máy bay Mỹ bắn phá, vẫn xông ra cứu trâu. Bác góp ý:

- Các cháu dũng cảm thì đều đáng khen, nhưng phải thấy con người là qúy nhất. Vậy, không những phải sự việc có đúng thế không, mà còn phải cân nhắc xem có nên thế không. Một hành động tốt để riêng ra có thể biểu dương, nhưng nếu đặt thành vấn đề chung, nêu thành sách, thì cần cân nhắc lợi hại, trước mắt và lâu dài... Nào, chú đọc tiếp xem nào.

Bác nghiêng nghiêng đầu, chăm chú nghe, có khi đợi đọc xong cả bài, có khi mới đọc một đoạn, Bác đã nhắc ngay, nào: "Viết còn dài, chưa tập trung, tô vẽ thêm làm mất tự nhiên"; nào: "Nhân vật hay suy nghĩ nội tâm quá, như trong tiểu thuyết ấy"... Qua đọc thử mấy bài, được Bác chỉ ra ngay những thiếu sót. Nghe Bác nói, mọi người thấy cần phải quán triệt nhiều hơn nữa ý kiến chỉ đạo của Bác. Phải chọn lại, tìm lại những chuyện tiêu biểu nhất, điển hình nhất. Nhưng thế nào là tiêu biểu nhất. Có người thưa với Bác và được Bác giải thích:

- Như "Nhị thập tứ hiếu" ấy!

Sau này về nhà, ai nấy tìm đọc lại "Nhị thập tứ hiếu", thì mới rõ là phải tìm những gương tiêu biểu cho đạo đức của ta... Bác nhắc "Nhị thập tứ hiếu", cũng là gợi cả ý nên học lối viết theo cách kể chuyện dân gian cho thích hợp với những gương này, dễ nhớ và làm theo được.

Cuối buổi làm việc, Bác hỏi đồng chí Hà Huy Giáp:

- Các chú định bao giờ thì xong?

- Xin Bác đến ngày 02-9-1968 để mừng Quốc khánh ạ!

- Ðược! Các chú nhớ đúng hẹn!

Thế rồi, các nhà xuất bản tập trung sửa chữa bản thảo. Anh em ở Nhà xuất bản Quân đội nhân dân phấn đấu rất cao, đúng ngày 02-9, đem 200 cuốn Vì nước, vì dân mới in xong lên biếu Bác. Bác xem và khen đúng hẹn thế là tốt. Bác góp ý: "Giá sách còn đắt". Bác chỉ giữ lại một cuốn và dặn:

- Từ nay về sau sách mới in không biếu nữa, vì sẽ ảnh hưởng đến giá thành, giá sách sẽ cao, nhân dân không mua được nhiều.

Tính ra suốt trong hai tháng, từ tháng 7-1968 đến tháng 9-1968, khi tập sách ra đời, Bác Hồ đã trực tiếp chỉ thị cho đồng chí Hà Huy Giáp mười lần về việc làm loại sách này.

(Nguyễn Phúc Ấm, biên soạn theo cuốn "Bác Hồ với sách người tốt, việc tốt" của Trần Kư - Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1998).

26. Từ kỷ niệm tuổi thơ

Những năm học ở bên Pháp, tôi vẫn luôn luôn hướng về Tổ quốc. Một đêm giao thừa, tất cả anh chị em người Việt Nam tụ tập tại trụ sở đón Tết của quê hương trên đất Pháp…

Tối hôm đó, Bác gặp Việt kiều ở Pari. Anh chị em Việt kiều quây quần xung quanh Bác như những người con tụ lại bên cha già. Trong tình cảm thương yêu rộng lớn, Bác dặn dò tất cả mọi người thế này: “Các cô, các chú phải cố gắng mỗi người học giỏi một nghề, sau này trở về giúp nước nhà, góp phần làm cho dân ta giàu, nước ta mạnh”. Lời dạy của Bác đã trở thành bó đuốc soi đường cho tôi suốt những năm học tập ở xa quê hương.

Giữa năm 1959, tôi thi đỗ bằng thạc sĩ toán học. Nhớ lời Bác, tôi tình nguyện xin về nước phục vụ.

Trong những năm công tác ở Hà Nội, tôi được gặp Bác ba lần, một lần Bác đến thăm Trường Đại học Sư phạm của chúng tôi. Lần thứ hai, vào dịp Tết, tôi được gặp Bác. Trong buổi liên hoan đón năm mới hôm ấy Bác rất vui. Tôi lại được ngồi gần Bác. Bác cười chỉ vào tôi và nói với các đồng chí lãnh đạo ngồi bên cạnh:

- Sao ít phụ nữ thế? Bác muốn phong trào phụ nữ tiến bộ mạnh hơn nữa…

Tôi nghĩ trong đời tôi lúc bé đã được một lần Bác dạy cho cách học, những năm sống xa quê hương, hình ảnh Bác là nguồn động viên tôi khắc phục khó khăn để học tập. Khi trưởng thành lại được Bác săn sóc từ bữa ăn. Tôi là một trong hàng triệu phụ nữ Việt Nam đã được Bác, Đảng, Cách mạng giải phóng và trở thành người có ích, được đem sức lực của mình phục vụ nhân dân, đất nước. Đối với tôi, không có gì sung sướng hơn là giữ gìn những kỷ niệm về Bác - cái vốn quý báu mà Bác đã trao cho tôi từ khi còn bé. Cái vốn quý đó mỗi ngày càng được nhân lên gấp bội, như cuộc đời tôi, được Bác, Đảng dìu dắt mãi mãi đi trên con đường sáng…

(Trích lời kể của nữ Giáo sư, Tiến sĩ Toán học Hoàng Xuân Sính)

27. Tình thương của Bác

Hà Tĩnh - vùng "cán xoong" của khu 4 cũ - những ngày tháng 3 nǎm 1966, chia lửa với miền Nam, phải chịu đựng bao ác liệt đánh phá của không lực Hoa Kỳ.

Dã man nhất, chúng rải thảm bom B.52 vào các làng mạc hiền hòa, bệnh viện, chùa chiền, nhà thờ và trường học... Trường cấp 2 Hương Phúc thuộc huyện Hương Sơn là mục tiêu đánh phá của chúng.

Vào một ngày trung tuần tháng 3-1966, hàng đàn quạ Mỹ lồng lộn ném bom "tọa độ" vào trường. Buổi sáng, chỉ mỗi lớp 6A, vừa vào tiết học vǎn, 45 học sinh chỉ có một em sống sót. Hôm ấy, học trò gái Nguyễn Thị Mão vì có việc nhà xin phép đến muộn, nên em thoát khỏi bị vùi lấp dưới hố bom của bầy quỷ dữ.

Bác Hồ được tin đau thương này, đã cho mời Bộ trưởng Giáo dục Nguyễn Vǎn Huyên lên cho Bác biết tình hình cụ thể giặc Mỹ leo thang hủy diệt các trường học.

Đoàn chúng tôi gồm: Em Nguyễn Thị Mão, học sinh lớp 6; thầy giáo chủ nhiệm Thái Vǎn Nhậm, cô Trương Thị Vi, đại diện gia đình học sinh và thầy trưởng ty giáo dục Lê Sĩ Nghĩa, cấp tốc về Hà Nội để gặp Bác theo lệnh của Bộ. Bác bận trǎm ngàn việc lớn của đất nước, mà không quên một lớp học nhỏ đau thương - nơi thâm sâu xa vời - trong trǎm ngàn trường lớp khác. Chúng tôi theo Bộ trưởng vào Ba Đình báo cáo với Bác sự việc tàn bạo của giặc Mỹ ở Hương Sơn vừa xảy ra. Lúc chúng tôi đến, Bác chờ sẵn ở sảnh đường phòng khách Phủ Chủ tịch. Thầy trò chúng tôi có ngờ đâu Người lại trân trọng và chu đáo với anh chị em chúng tôi như vậy!

Bác thân mật hỏi thǎm từng người. Tôi thay mặt đoàn thưa cùng Bác giặc Mỹ đã trút bom hủy diệt toàn bộ ngôi trường. Hôm ấy, may là các lớp khác học buổi chiều. Lớp sáu chỉ còn mỗi một em sống sót là em Mão. Bác bảo Mão đến ngồi kề Bác. Bác nhẹ nhàng vuốt tóc cháu gái bé bỏng, như ông ngoại vỗ về an ủi cháu. Mấy lần câu chuyện tôi kể phải dừng lại vì Bác rút khǎn tay lau mắt.

Đến lượt cô Trương Thị Vi, người thân của học sinh bị nạn, đứng lên:

- Thưa Bác, cháu đại diện cho phụ huynh học sinh, em ruột cháu bị lấp vùi trong cǎn hầm, ngạt thở chết. Cha già không đi được, cháu đi thay.

Bùi ngùi lặng im một lúc, Bác hỏi:

- Cháu có biết phụ huynh là gì không?

- Thưa Bác, phụ huynh là cha mẹ ạ!

Bác ôn tồn giảng giải thêm:

- Phụ huynh là cha anh. Ngày xưa phong kiến trọng nam khinh nữ, nên chỉ nói đến cha anh, xem nhẹ vai trò của mẹ. Hôm nay, Bác dặn chú Huyên là ta có từ cha mẹ thì cứ gì phải dùng phụ huynh. Còn học sinh thì ta dùng học trò cũng được. Từ nào ta thiếu thì hãy mượn. Bộ trưởng Nguyễn Vǎn Huyên đỡ lời thưa Bác:

- Chúng cháu đã bắt đầu dùng "Hội cha mẹ học sinh".

Còn phụ huynh học sinh thì dùng cha mẹ học trò, hoặc gia đình học trò... ạ?

Nghe đến từ gia đình, Bác nhắc nhở và nhấn mạnh:

- Nhân đây Bác nhắc các thầy cô giáo là, giáo dục ở nhà trường phải biết kết hợp với gia đình. Vì gia đình là tế bào của xã hội. Gia đình tốt thì xã hội, nhà trường mới tốt, mới dạy tốt, học tốt được? Gia đình có nghĩa cũ và nghĩa mới, nghĩa rộng và nghĩa hẹp. Gia là nhà, đình là sân. Theo nghĩa cũ thì gia đình chỉ giới hạn hẹp hòi trong nhà, ngoài sân thôi. Nghĩa là chỉ lo cho những người trong nhà mình ấm no, yên ổn. Ngoài ra ai nghèo khó mặc ai. Như thế là chưa đủ. Theo nghĩa mới thì gia đình rộng rãi hơn, tốt đẹp hơn. Thí dụ: Những người lao động trong một nhà máy, một cơ quan, trường học... đều phải đoàn kết thương yêu nhau như anh em trong một gia đình. Rộng hơn nữa, thì có đại gia đình các dân tộc Việt Nam và "công nông thế giới đều là anh em".

Rồi Bác quay sang hỏi cháu Mão:

- Cháu làm được những việc gì giúp cha mẹ, gia đình?

- Thưa Bác, cháu gánh nước, gánh lúa, cấy hái được ạ.

- Cháu gánh được bao nhiêu cân?

- Dạ thưa, được ba mươi ạ!

- Cháu gặt hái, cấy được là giỏi. Bác khen cháu vừa học vừa giúp gia đình. Nhưng tuổi nhỏ làm việc nhỏ, cháu đừng gánh nặng quá. Mười một tuổi như cháu gánh ba mươi cân là không nên!

Bác lại hỏi đồng chí Nghĩa, Trưởng ty Giáo dục:

Hà Tĩnh của chú được bao nhiêu thầy cô, học trò giỏi?

Anh Nghĩa không chuẩn bị, hơi lúng túng. Bác nhìn sang đồng chí Bộ trưởng, Bộ trưởng cũng chưa được báo cáo, nhưng nhanh trí lấy chân khều nhẹ vào chân tôi - có ý nhờ tôi trả lời hộ vì gần đây tôi được Vǎn phòng Bác chuyển đến sáu Giấy khen, Huy hiệu Hồ Chủ tịch và sáu phần quà tặng giáo dục Hà Tĩnh, nên tôi mạnh dạn thưa:

- Thưa Bác, Hà Tĩnh có hai giáo viên và bốn học trò được tuyên dương và thưởng Huy hiệu Bác.

- Hà Tĩnh có 82 vạn dân mà chỉ có chừng ấy thầy cô dạy giỏi, học trò giỏi là quá ít. Bác nhắc các cô chú về phải nhân rộng ra toàn ngành, thi đua với Bắc Lý dạy tốt, học tốt nhiều hơn nữa. Rồi Bác dặn dò phải có kế hoạch đào hầm, che chắn và phân tán các trường đại học về nông thôn bảo đảm an toàn cho thầy trò.

Chúng tôi quyến luyến không dám chia tay Bác. Bác chia quà cho từng người một và bảo gói đem về. Duy chỉ có Bộ trưởng Nguyễn Vǎn Huyên không dám nhận. Bác nhắc phần chú Huyên sao để lại.

- Thưa Bác, cháu không còn con nhỏ, chúng ra riêng cả.

- Thì chú mang về cho thím vậy?

Cả buổi họp giờ mới dám cười, và chúng tôi đã biến đau thương thành hành động, thi đua với Bắc Lý "dạy tốt, học tốt".

(Đào Huy Hi kể, trích trên Báo Nhân Dân ngày 16-5-1997)

bqllang.gov.vn/tin-tuc/tin-tong-hop/8730-nho-mai-nhung-cau-chuyen-ke-ve-bac-phan-1.html?start=5
  Gửi tin phản hồi Gửi Email In bài viết
Ý kiến bạn đọc gửi
Tin tức này chưa có ý kiến nào
Các tin đã đưa
Chủ tịch Hồ Chí Minh với nông dân, nông nghiệp và nông thôn mới: Giá trị lý luận và thực tiễn(29/11/2019 - 15:06)
Từ tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác cán bộ đến xây dựng đội ngũ cán bộ theo tinh thần Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ bảy khóa XII(29/11/2019 - 14:57)
Bài học lãnh đạo quản lý từ cách ứng xử của Bác Hồ(29/11/2019 - 14:55)
Học và làm theo phương pháp dân vận Hồ Chí Minh(29/11/2019 - 14:52)
Quan điểm của Hồ Chí Minh về những phẩm chất của nhà ngoại giao(29/11/2019 - 14:51)
Nghĩ về lời Bác dạy: “Giáo viên phải chú ý cả tài, cả đức”(29/11/2019 - 14:50)
Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong xây dựng, củng cố mối quan hệ mật thiết giữa quân đội và nhân dân trong tình hình hiện nay(29/11/2019 - 14:48)
Củng cố, phát triển khối đại đoàn kết toàn dân tộc hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh(29/11/2019 - 14:47)
Tư tưởng Hồ Chí Minh về tiêu chuẩn cán bộ phục vụ sự nghiệp cách mạng(29/11/2019 - 14:45)
Noi gương Bác cần thật cụ thể, thực chất và thiết thực(29/11/2019 - 14:10)
Thực hành dân chủ theo chỉ dẫn của Bác(29/11/2019 - 14:09)
Tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh trong văn học đương đại - chân lí và sự thật(29/11/2019 - 14:07)
Chuyển trang    
Trang số:  1/5
Số bản ghi trên trang:



Tin mới
Chủ tịch Hồ Chí Minh với nông dân, nông nghiệp và nông thôn mới: Giá trị lý luận và thực tiễn
Từ tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác cán bộ đến xây dựng đội ngũ cán bộ theo tinh thần Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ bảy khóa XII
Bài học lãnh đạo quản lý từ cách ứng xử của Bác Hồ
Học và làm theo phương pháp dân vận Hồ Chí Minh
Quan điểm của Hồ Chí Minh về những phẩm chất của nhà ngoại giao
Nghĩ về lời Bác dạy: “Giáo viên phải chú ý cả tài, cả đức”
Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong xây dựng, củng cố mối quan hệ mật thiết giữa quân đội và nhân dân trong tình hình hiện nay
Củng cố, phát triển khối đại đoàn kết toàn dân tộc hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh
Tư tưởng Hồ Chí Minh về tiêu chuẩn cán bộ phục vụ sự nghiệp cách mạng
Noi gương Bác cần thật cụ thể, thực chất và thiết thực
Thực hành dân chủ theo chỉ dẫn của Bác
Tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh trong văn học đương đại - chân lí và sự thật
Bài học lãnh đạo quản lý từ cách ứng xử của Bác Hồ
Thực hiện tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết quốc tế
Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong xây dựng, củng cố mối quan hệ mật thiết giữa quân đội và nhân dân trong tình hình hiện nay