Liên kết website
   
Thông tin truy cập
 
Số lượt truy cập : 96586
Khách trực tuyến : 10273
Thành viên trực tuyến : 5
 
THỊ TRƯỜNG SẢN PHẨM NÔNG NGHIỆP Số 12, Kỳ 2 tháng 10 năm 2017
10/11/2017 - 14:48

THỊ TRƯỜNG SẢN PHẨM NÔNG NGHIỆP

Số 12 năm 2017                                                                         Kỳ 2 tháng 10 năm 2017   

Đơn vị thực hiện:

v Cục Công Thương địa phương

v Trung tâm Thông tin Công nghiệp và Thương mại

 

Địa chỉ liên hệ:

655 Phạm Văn Đồng

Bắc Từ Liêm – Hà Nội

Tel: (024) 37152585

Fax: (024) 37152574

 

 

 

 

 

  • TỔNG QUAN
  • THÔNG TIN THỊ TRƯỜNG NỘI ĐỊA

v  Diễn biến tình hình thị trường nông, lâm, thủy sản từ ngày 15/10/2017 – 30/10/2017

v  Vẫn còn nhiều dư địa để đẩy mạnh tiêu thụ thủy sản tại thị trường nội địa

  • THÔNG TIN THỊ TRƯỜNG XUẤT KHẨU

v  Xuất khẩu nông, lâm, thủy sản sẽ đạt mức cao kỷ lục trong năm 2017

v  Nhiều rào cản khi xuất khẩu nông, thủy sản sang thị trường Mỹ

v  Xuất khẩu nông, thủy sản sang Italia tăng khá

  • THÔNG TIN XÚC TIẾN THƯƠNG MẠI

v  Xây dựng thương hiệu nông sản tỉnh Quảng Ninh phát triển chương trình OCOP

v  Sơn La công bố Chỉ dẫn địa lý cà phê và Ngày hội cà phê Mai Sơn

v  Thủy sản Việt Nam hướng tới thị trường nội địa

v  Thông báo về việc Sri Lanka mời thầu quốc tế nhập khẩu 200.000 tấn gạo

v  Hội chợ Thương mại quốc tế Việt - Trung năm 2017

  • THÔNG TIN CHÍNH SÁCH

v  Đề xuất cắt giảm 118 điều kiện kinh doanh nông nghiệp

v  Quy hoạch sản xuất nông nghiệp công nghệ cao

2

3

 

3

 

4

 

6

6

 

12

 

17

21

21

 

24

 

25

25

 

26

27

27

28

TỔNG QUAN

Tại thị trường trong nước, hoạt động sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản nhìn chung diễn biến tích cực trong tháng 10/2017.

Trong đó, sản xuất nông nghiệp trong tháng tập trung vào chăm sóc, thu hoạch lúa mùa, lúa thu đông trên cả nước và gieo trồng cây màu vụ đông ở phía Bắc. Tính đến trung tuần tháng 10, diện tích gieo cấy lúa mùa cả nước đạt 1.747,6 nghìn ha, bằng 98,6% cùng kỳ năm trước; diện thích thu hoạch được 2.104,5 nghìn ha lúa hè thu, bằng 99,9% cùng kỳ năm trước; năng suất ước tính đạt 54,5 tạ/ha, tăng 0,6 tạ/ha so với vụ hè thu trước; sản lượng đạt 11,5 triệu tấn, tăng 127,5 nghìn tấn.

Đối với ngành thủy sản, trong tháng 10 mặc dù ảnh hưởng xấu bất lợi của thời tiết nhưng ngành khai thác, chăn nuôi thủy hải sản vẫn giữ đà phát triển tốt. Tính chung 10 tháng đầu năm 2017, sản lượng thủy sản ước tính đạt 5.800,7 nghìn tấn, tăng 4,5% so với cùng kỳ năm trước, trong đó sản lượng thủy sản nuôi trồng đạt 3.040,5 nghìn tấn, tăng 4,3%; sản lượng thủy sản khai thác đạt 2.760,2 nghìn tấn, tăng 4,7% (sản lượng thủy sản khai thác biển đạt 2.597 nghìn tấn, tăng 4,9%).

Trong lĩnh vực xuất khẩu, hoạt động xuất khẩu nhóm nông, lâm, thuỷ sản (bao gồm 9 mặt hàng cà phê, chè, gạo, hạt tiêu, hạt điều, sắn, rau quả, thủy sản và cao su) tiếp tục duy trì tốc độ tăng trưởng cao với kim ngạch ước đạt 19,4 tỷ USD, tăng tới 26,2% so với tháng 10/2016, đưa tổng kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng này trong 10 tháng đầu năm 2017 lên 21,3 tỷ USD, chiếm 12,3% tổng kim ngạch xuất khẩu, tăng 17,1% so với cùng kỳ năm trước. Với kết quả này, nhiều khả năng hoạt động xuất khẩu của toàn ngành nông nghiệp sẽ đạt được mục tiêu đề ra, góp phần quan trọng đưa GDP toàn ngành vượt mức tăng trưởng 3% trong cả năm 2017 như ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng. Với những kết quả khả quan trong năm 2017, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT) đã đặt mục tiêu tăng trưởng của ngành NN&PTNT năm 2018 là 3% và kim ngạch xuất khẩu nông lâm thủy sản (bao gồm cả gỗ và sản phẩm gỗ) đạt 35 tỷ USD.                  

Một số thông tin đáng chú ý:

è Dự thảo Nghị định thay thế Nghị định số 109/2010/NĐ-CP của Chính phủ về kinh doanh xuất khẩu gạo đang được Bộ Công Thương hoàn thiện và trình Chính phủ ban hành từ ngày 01/01/2018. Dự thảo Nghị định có nhiều thay đổi căn bản về quy định điều kiện kinh doanh xuất khẩu gạo theo hướng tạo thuận lợi và giảm tối đa chi phí gia nhập thị trường của thương nhân. Đây được đánh giá là bước đột phá về cải cách hành chính của Bộ Công Thương trong lĩnh vực xuất khẩu gạo. Khi được ban hành sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp trong hoạt động kinh doanh xuất khẩu gạo thời gian tới.

è Trong số 345 điều kiện đầu tư, kinh doanh hiện hành, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã đề xuất bãi bỏ, sửa đổi hơn 100 điều kiện, chiếm hơn 30%.

è 9 tháng đầu năm 2017, kim ngạch xuất khẩu hàng nông, thủy sản của Việt Nam tới thị trường Mỹ đạt 2,62 tỷ USD, tăng 6% so với cùng kỳ năm trước và chiếm 13,6% tổng kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng nông, thủy sản của Việt Nam. So với tốc độ tăng trưởng xuất khẩu của nhóm hàng này tới các thị trường khác như Trung Quốc (+39,6%), Hàn Quốc (+25,7%), Nhật Bản (+23,1%) … thì xuất khẩu sang Mỹ chậm hơn rất nhiều. Trong đó, nguyên nhân chính là do hàng loạt rào cản thương mại mà phía Mỹ đặt ra đối với các mặt hàng nông, thủy sản Việt Nam.

è Trong 9 tháng đầu năm 2017, kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng nông, thủy sản sang thị trường Italia trong 9 tháng năm 2017 đạt 382,4 triệu USD, tăng 15,9% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, các mặt hàng nông, thủy sản chủ lực của Việt Nam xuất khẩu sang thị trường Italia gồm: cà phê, hàng thủy sản, hạt điều, cao su, hạt tiêu, hàng rau quả…

THÔNG TIN THỊ TRƯỜNG NỘI ĐỊA

Diễn biến tình hình thị trường nông, lâm, thủy sản trong kỳ từ ngày 15/10/2017 đến 30/10/2017

Trong nửa cuối tháng 10/2017, giá nông sản trong nước biến động trái chiều, giá gạo và giá cá tra tiếp tục có xu hướng tăng trong khi giá các mặt hàng nông sản khác lại giảm.

Gạo: Sau khi thu hoạch xong vụ Hè Thu, nguồn cung lúa gạo trong nước đã xuống mức thấp, trong khi đó vụ Thu Đông 2017 mới thu hoạch khoảng 35%. Đây là lý do đẩy giá lúa gạo trong nước tăng trong những tuần gần đây.

Trong tuần đến ngày 29/10/2017, giá lúa khô tại kho khu vực ĐBSCL tăng 400 – 500 đ/kg so với ngày 15/10/2017, loại thường dao động từ 5.600– 5.700 đ/kg, lúa dài khoảng 5.900 – 6.000 đ/kg. Giá gạo thành phẩm tăng thấp hơn, tăng 150 – 200 đ/kg, giá gạo 5% tấm không bao bì tại mạn hiện khoảng 8.600 – 8.700 đ/kg, gạo 15% tấm 8.350 – 8.450 đ/kg và gạo 25% tấm khoảng 8.100 – 8.200 đ/kg tùy chất lượng và địa phương.

Giá chào bán gạo của Việt Nam trên thị trường thế giới hiện đang ở mức cao so với một số thị trường khác, vì vậy có khả năng giá gạo Việt Nam sẽ có sự điều chỉnh giảm nhẹ trong thời gian tới để tăng tính cạnh tranh.

Cà phê: Giá cà phê nhân xô tại khu vực Tây Nguyên tính đến phiên giao dịch ngày 30/10/2017 dao động từ 41.000 – 41.900 đ/kg, giảm 3,5% (tương ứng 1.500 đ/kg) so với phiên giao dịch ngày 15/10/2017. Giá cà phê Robusta xuất khẩu tại cảng TP Hồ Chí Minh cũng giảm 2,8% so với kỳ trước, đạt 1.881 USD/tấn (FOB). Như vậy thị trường cà phê nội địa đã ghi nhận mức giá giao dịch thấp nhất từ đầu năm 2017 đến nay.

Mặc dù tồn kho cà phê trong dân và doanh nghiệp còn rất ít, nhưng do nhu cầu nhập khẩu của nước ngoài yếu trong bối cảnh nhiều nhà nhập khẩu chờ đợi hàng mới từ vụ 2017/18 của Việt Nam nên thị trường giao dịch vẫn trầm lắng.

Hạt điều: Tại Bình Phước, giá điều đang giảm do nhu cầu sử dụng để làm bánh đã giảm sau Tết Trung thu. Cụ thể, điều nhân loại W320 từ 250.000 đồng/kg giảm còn 240.000 đồng/kg và loại W240 từ 260.000 đồng/kg giảm còn 250.000 đồng/kg. Tại Đắk Lắk, hạt điều khô mua xô giá 40.000-45.000 đồng/kg. Giá  điều khô tại Bình Phước hiện dao động từ 40.000 – 45.000 đ/kg, giảm 10% so với cuối tháng 9/2017.

Do bị mất mùa, hiện nguồn cung cấp hạt điều nguyên liệu phụ thuộc chủ yếu vào nhập khẩu (chiếm đến 2/3 tổng sản lượng chế biến).

Hạt tiêu: Thị trường hồ tiêu trong nước giảm trong tháng 10/2017. So với cuối tháng 9/2017, giá tiêu tại Đắk Lắk – Đắk Nông và Đồng Nai giảm 5.000 đồng/kg, hiện ở mức 77.000 đồng/kg. Giá tiêu tại Gia Lai và Vũng Tàu giảm 6.000 đồng/kg xuống còn 76.000 – 78.000 đồng/kg. Nguyên nhân chủ yếu khiến giá tiêu giảm là do sức tiêu thụ thấp, trong khi lượng tiêu trữ trong dân còn nhiều, ước tính còn khoảng trên 30% sản lượng niên vụ vừa qua.

Thủy, hải sản: Từ đầu năm đến nay, thị trường cá tra và tôm trong nước nhìn chung có sự khởi sắc về giá theo hướng có lợi cho người nuôi. Sức tiêu thụ ở một số thị trường chính duy trì ổn định cũng giúp việc tiêu thụ nguyên liệu khả quan. Giá nguyên liệu giai đoạn này đang trong xu hướng tăng do nguồn cung hạn chế trong khi nhu cầu tăng cao nhằm đáp ứng nhu cầu nguyên liệu để phục vụ cho hoạt động xuất khẩu vào các tháng cuối năm.

Tính đến cuối tháng 10/2017, giá cá tra nguyên liệu tại Đồng Tháp đã tăng lên 28.400 – 30.400 đ/kg. Với mức giá này, người nuôi đã có lãi và dự báo giá cá tra sẽ tiếp tục ổn định tới cuối năm.

Tham khảo giá nông, thủy sản tại thị trường trong nước đến ngày 30/10/2017

(ĐVT: 1.000 đ/kg; USD/tấn)

Tên hàng

Ngày 30/10/2017

So với ngày 15/10/2017 (%)

So với ngày 28/9/2017 (%)

So với đầu năm 2017 (%)

So với đầu năm 2016 (%)

Lúa khô loại thường

5.700

7,5

9,6

9,6

6,5

Lúa khô loại dài

6.000

9,1

5,3

11,1

8,1

Gạo nguyên liệu loại 1 làm ra gạo 5% tấm

7.800

7,6

9,9

16,4

12,2

Gạo nguyên liệu loại 1 làm ra gạo 25% tấm

7.600

7,0

9,4

16,9

11,8

Giá gạo thành phẩm 5% tấm

8.700

2,4

3,6

19,2

8,7

Giá gạo thành phẩm 15% tấm

8.450

1,8

3,0

19,0

8,3

Giá gạo thành phẩm 25% tấm

8.200

1,9

2,5

17,1

7,9

Giá chào bán gạo trắng 5% tấm (USD/tấn)

395

1,3

0,0

16,2

1,3

Giá chào bán gạo trắng 25% tấm (USD/tấn)

385

1,3

0,0

16,7

4,1

Cà phê nhân xô tại Tây Nguyên

41.900

-3,5

-0,2

-4,6

28,5

Giá cà phê Robusta xuất khẩu tại cảng TP Hồ Chí Minh  (USD/tấn)

1.881

-2,8

1,1

-4,9

24,0

Chè xanh Thái Nguyên búp khô

100.000

0,0

0,0

0,0

-16,7

Chè cành Thái Nguyên chất lượng cao

185.000

0,0

0,0

0,0

-7,5

Chè xanh Thái Nguyên búp khô (loại 1)

130.000

0,0

0,0

-3,7

-18,8

Chè xanh nguyên liệu loại 1 tại Lâm Đồng

9.000

0,0

0,0

28,6

0,0

Chè đen nguyên liệu loại 1 tại Lâm Đồng

6.000

0,0

0,0

71,4

33,3

Giá nhân điều khô tại Bình Phước

45.000

-10,0

-10,0

-16,7

12,5

Tiêu đen Tây Nguyên và Nam Bộ

78.000

-1,3

-7,1

-43,1

-54,1

SVR CV

42.459

-4,2

-6,6

-15,5

57,6

SVR 10

31.734

0,1

0,6

-26,0

32,9

SVR 20

31.635

0,2

0,6

-26,0

33,0

Cá tra thịt trắng loại 1 tại Đồng Tháp

30.400

1,3

8,6

24,1

41,4

Cá tra thịt trắng loại 2 tại Đồng Tháp

28.400

1,4

9,2

26,2

45,6

Tôm càng xanh (100 con/kg) Đồng Tháp

270.000

-3,6

0,0

12,5

8,0

Nguồn: Trung tâm Thông tin CN&TM tổng hợp

Vẫn còn nhiều dư địa để đẩy mạnh tiêu thụ thủy sản tại thị trường nội địa

Trong những năm gần đây, hoạt động chế biến và thương mại thủy sản đang ghi nhận xu hướng phát triển nhanh chóng. Giá trị xuất khẩu những năm qua luôn đứng đầu trong nhóm ngành hàng nông lâm thủy sản (chiếm 23 - 25% tỷ trọng xuất khẩu), và đứng thứ 4 các nước có tổng số lượng và kim ngạch xuất khẩu thủy sản lớn nhất trên toàn thế giới. Cùng với việc đẩy mạnh và mở rộng thị trường xuất khẩu, trong những năm qua, thị trường tiêu thụ thủy sản nội địa cũng đã có bước phát triển nhanh chóng. Ngoài 567 cơ sở chế biến quy mô công nghiệp, sản xuất hàng xuất khẩu, còn có khoảng 4.000 cơ sở chế biến nhỏ, hộ gia đình, các làng nghề thủy sản với khối lượng 500.000 tấn/năm. Tổng giá trị sản phẩm trung bình khoảng 15.000 tỷ đồng, đặc biệt, đã và đang tạo công ăn việc làm cho trên 40.000 lao động. Tuy giá trị và vị thế chưa cao so với xuất khẩu nhưng sản phẩm thủy sản truyền thống đã góp phần làm phong phú nguồn thực phẩm cho trên 92 triệu dân và bình ổn giá thực phẩm của thị trường trong nước. Ngoài ra, tiêu thụ thủy sản nội địa đã góp phần ổn định sản xuất thủy sản nói chung khi xuất khẩu gặp nhiều khó khăn. 

Với dân số khoảng 92 triệu người, cùng lượng du khách quốc tế hàng năm lên tới gần 10 triệu người, Việt Nam được đánh giá là thị trường tiêu thụ giàu tiềm năng đối với các mặt hàng thủy sản. Mức tiêu thụ sản phẩm thủy sản theo đầu người của Việt Nam hiện tăng trưởng tương đối đều đặn với mức tăng trung bình khoảng 5,7%/năm và tính đến năm 2016 tiêu thụ bình quân đạt khoảng 27kg/người.

Nhận thấy tiềm năng tiêu thụ thủy sản chế biến ở thị trường nội địa, những năm gần đây, không ít doanh nghiệp thủy sản có tên tuổi trong xuất khẩu đã tìm cách quay lại sân nhà. Không còn là những bước đi thăm dò thận trọng, các doanh nghiệp đã có sự đầu tư nghiêm túc, bài bản cho chiến lược quay về khai phá thị trường hơn 90 triệu dân. Tuy nhiên, thực tế khi khai thác thị trường trong nước, doanh nghiệp có thể gặp những khó khăn hơn cả khi xuất khẩu, trong đó có thể liệt kê một số khó khăn như sau:

- Khó khăn trước hết là việc thúc đẩy tiêu thụ hàng thủy sản chế biến sẵn trong bối cảnh các sản phẩm đông lạnh hiện chỉ được tiêu thụ chủ yếu qua kênh siêu thị.Các sản phẩm không thể vào các chợ bởi ở các chợ không được đầu tư phương tiện bảo quản các sản phẩm đông lạnh. Nếu đầu tư thì giá bán sẽ bị đội lên cao hơn. Để đưa sản phẩm thủy sản vào siêu thị là một cuộc cạnh tranh khốc liệt, bởi hầu hết các siêu thị đều nhận bán sản phẩm rất hạn chế (2-3 sản phẩm). Doanh nghiệp phải tự đầu tư trang bị hệ thống lạnh riêng cho sản phẩm. Ngoài ra, chi phí và chiết khấu của siêu thị khá cao,  đội vào giá thành sản phẩm làm giảm lợi nhuận của doanh nghiệp.

- Tiếp theo là việc tiếp cận, vận dụng các chính sách của Chính phủ về khuyến khích đầu tư như: vốn, đất đai, lao động, đào tạo của các cơ sở triển khai vào thực tế rất khó khăn. Công tác quản lý, giám sát còn chồng chéo giữa các cơ quan quản lý như Bộ NN&PTNT, Bộ Công thương, Bộ Y tế…

- Điều kiện cơ sở vật chất phục vụ sản xuất hạn chế; chất lượng sản phẩm còn thấp, không ổn định, ít được chú trọng và cải thiện; làm theo truyền thống nên ý thức đến vấn đề an toàn vệ sinh thực phẩm còn hạn chế, sản phẩm không đáp ứng được yêu cầu chất lượng của người tiêu dùng. 

- Nguồn cung nguyên liệu gặp nhiều trở ngại do sản lượng khai thác ngày càng giảm, chi phí khai thác ngày một tăng gây lên nên tình trạng khan hiếm nguyên liệu sản xuất.

- Hiện mới chỉ có các quy định cụ thể, chi tiết về chất lượng cho các mặt hàng thủy sản xuất khẩu mà chưa có bộ tiêu chí đầy đủ, thống nhất cho thị trường nội địa. Việc kết nối giữa các nhà sản xuất, chế biến với hệ thống bán lẻ còn chưa chặt chẽ. Hơn nữa, tâm lý người tiêu dùng chỉ tin vào sản phẩm nhập ngoại, mặc dù chất lượng sản phẩm trong nước không hề thua kém.

- Thị hiếu tiêu dùng của người Việt vẫn thích hàng tươi sống thay vì sản phẩm chế biến sẵn, hàng đông lạnh và tâm lý tiêu dùng ưa chuộng sản phẩm nhập ngoại của người dân.

Những khó khăn này khiến nhiều doanh nghiệp không thực sự mặn mà với thị trường nội địa. Điều đó thể hiện qua con số thống kê: Trong khi số doanh nghiệp chế biến thủy sản quy mô công nghiệp để xuất khẩu lên tới 567 cơ sở, thì số doanh nghiệp chế biến thủy sản tiêu thụ trong nước chỉ là 140. Tổng giá trị ngành hàng thủy sản cũng có sự chênh lệch lớn giữa xuất khẩu (trên 7 tỷ USD), so với khoảng 660 triệu USD tiêu thụ nội địa (số liệu năm 2016). Như vậy, trên thực tế sản lượng tiêu thụ thủy sản trong nước vẫn còn nhiều dư địa để mở rộng. Trong thời gian tới, khi người dân có mức thu nhập cao hơn, dân số ở nông thôn thay đổi, số người thành thị và có mức thu nhập cao hơn tăng lên, sản phẩm thủy sản tiêu thụ sẽ càng ngày đòi hỏi có chất lượng và giá trị cao hơn. Dự báo mức tiêu thụ thủy sản tại thị trường trong nước sẽ tăng nhanh trong thời gian tới. Mức tiêu dùng thủy sản bình quân trên đầu người Việt Nam năm 2020 có khả năng đạt 28-30kg/đầu người/năm.

Trong Hội thảo “Phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm thủy sản nội địa” diễn ra vào đầu tháng 10 vừa quado Tổng cục Thủy sản, Cục chế biến và phát triển thị trường nông sản – Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP) phối hợp tổ chức, các ý kiến thảo luận tại Hội thảo đều thống nhất cao rằng, để phát triển được thị trường tiêu thụ thủy sản nội địa, cần thực hiện một số giải pháp sau:

+ Đẩy mạnh xú́c tiến thương mại đối với các mặt hàng thủy sản của các làng nghề ở địa phương đến được các thị trường lớn;

+ Củng cố và phát triển tốt mạng lưới chợ, siêu thị, làng nghề thủy sản, các chợ nông thôn, hình thành các chợ đầu mối nhằm khơi thông tốt thị trường;

+ Phát triển các hệ thống cung ứng cho từng mặt hàng theo nhu cầu, cả về địa lý và thu nhập, đồng thời khuyến khích các doanh nghiệp nhỏ tập trung thị trường trong nước;

+ Doanh nghiệp chú ý đẩy mạnh công tác quản lý chất lượng hàng hoá, đăng ký tiêu chuẩn chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm;

+ Cùng với việc tiếp tục có những điều chỉnh về mặt quản lý nhà nước, giám sát chất lượng an toàn vệ sinh thực phẩm, các Bộ, ban, ngành liên quan cũng cần nghiên cứu để đưa ra các giải pháp về nguồn nguyên liệu, công nghệ chế biến nhằm đa dạng hóa và nâng cao chất lượng sản phẩm. Đây là một trong những cơ sở để sản phẩm thủy sản đến với mọi nhà. 

Bên cạnh các giải pháp trên, thì việc thay đổi thị hiếu tiêu dùng của người dân là vấn đề rất quan trọng. Điều này sẽ có ý nghĩa trong kích thích tiêu dùng, cũng như tạo điều kiện về kinh doanh, qua đó thúc đẩy sản xuất của các doanh nghiệp, cơ sở chế biến. Đặc biệt, truyền thông mạnh mẽ hơn về giá trị dinh dưỡng của thủy sản, nhất là con cá tra để thị trường trong nước từng bước tiếp cận và tiêu thụ mạnh mẽ. Với hơn 90 triệu dân, thị trường nội địa là “mảnh đất” rất tiềm năng để các doanh nghiệp khai thác, phát triển.

THÔNG TIN THỊ TRƯỜNG XUẤT KHẨU

Xuất khẩu nông, lâm, thủy sản sẽ đạt mức cao kỷ lục trong năm 2017

Trong tháng 10/2017, xuất khẩu nhóm nông lâm thuỷ sản (bao gồm 9 mặt hàng cà phê, chè, gạo, hạt tiêu, hạt điều, sắn, rau quả, thủy sản và cao su) tiếp tục duy trì tốc độ tăng trưởng cao với kim ngạch ước đạt 19,4 tỷ USD, tăng 0,3% so với tháng trước và tăng tới 26,2% so với tháng 10/2016, đưa tổng kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng này trong 10 tháng đầu năm 2017 lên 21,3 tỷ USD, chiếm 12,3% tổng kim ngạch xuất khẩu, tăng 17,1% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, hầu hết các mặt hàng nông sản chủ lực đều ghi nhận tốc độ tăng trưởng cao như gạo tăng 20,3%; cao su tăng 43,7%; hạt điều tăng 24,4%; rau quả tăng 42,7% … Trong 10 tháng qua, xuất khẩu nhóm nông, lâm, thủy sản ghi nhận một số điểm nhấn đáng chú ý như sau:

- Thứ nhất, tổng kim ngạch xuất khẩu của nhóm hàng trên trong 10 tháng qua đã đạt trên 21 tỷ USD. Với tốc độ tăng này và kim ngạch đã đạt được trong năm 2016, nhiều khả năng hoạt động xuất khẩu của toàn ngành nông nghiệp sẽ đạt được mục tiêu với tổng kim ngạch xuất khẩu đạt 35 tỷ USD (bao gồm cả mặt hàng gỗ và sản phẩm gỗ), góp phần quan trọng đưa GDP toàn ngành vượt mức tăng trưởng 3% trong cả năm 2017 như ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng. Nếu dự báo này sát với thực tế, thì đây sẽ là quy mô cao nhất từ trước đến nay của kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản.

- Thứ hai, nếu tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước được dự báo cả năm đạt khoảng 210-211 tỷ USD, thì kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng nông, lâm - thủy sản dự báo cả năm sẽ chiếm khoảng 16,2%, tương đương với tỷ trọng về GDP của nhóm ngành nông, lâm nghiệp - thủy sản trong tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước. Nếu cả năm, cả nước được dự đoán có 26 mặt hàng đạt trên 1 tỷ USD, thì riêng nhóm ngành nông, lâm nghiệp - thủy sản có 7 mặt hàng, nếu tính cả gỗ và sản phẩm gỗ thì có 8 mặt hàng, chiếm gần 1/3 trên tổng số các mặt hàng xuất khẩu.

- Thứ ba, tổng kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản trong 10 tháng qua tăng do cả hai yếu tố: đơn giá và lượng xuất khẩu. Theo Tổng cục Thống kê, riêng trong 9 tháng đầu năm 2017, tính chung đơn giá xuất khẩu nông, lâm - thủy sản tăng khoảng 8,38% so với cùng kỳ năm trước, cao hơn tốc độ tăng giá chung của toàn bộ hàng xuất khẩu (4,73%); trong đó một số mặt hàng giá còn tăng cao hơn (như cao su tăng 45,5%, cà phê tăng 27,8%, hàng thủy sản tăng 8,75%...). Lượng tăng khoảng 8%, trong đó có một số mặt hàng lượng xuất khẩu còn tăng cao hơn, như chè (12%), hạt tiêu (25,1%), gạo (21,7%), cao su (31,5%)...

Với những kết quả khả quan trong năm 2017, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT) đã đặt mục tiêu tăng trưởng của ngành NN&PTNT năm 2018 là 3% và kim ngạch xuất khẩu nông lâm thủy sản đạt 35 tỷ USD. 

Mặc dù vậy, hiện xuất khẩu nhóm hàng nông, lâm, thủy sản của Việt Nam vẫn dựa vào gia tăng về lượng mà điều này có giới hạn nhất định và không thể tạo ra được tăng trưởng bền vững. Bên cạnh đó, các mặt hàng xuất khẩu chủ lực của ta như lúa gạo, cà phê, hồ tiêu, hạt điều… hầu như chưa có thương hiệu trên thị trường quốc tế. Điều này cho thấy, giá trị gia tăng của hàng hóa nông sản nước ta vẫn còn rất thấp, khả năng cạnh tranh chưa cao so với các đối thủ khác trên thị trường.

Nguyên nhân của tình trạng trên là do hàm lượng công nghệ, giá trị gia tăng trong các sản phẩm xuất khẩu của Việt Nam còn thấp; đa số các mặt hàng nông sản xuất khẩu chủ lực của nước ta đều dưới dạng thô hoặc sơ chế nên giá trị thu được chưa cao; chất lượng của hàng nông sản Việt Nam thấp, công nghệ chế biến lạc hậu, mẫu mã chưa hấp dẫn, giá thành sản xuất cao dẫn đến cạnh tranh kém, bị ép giá trên thị trường. Bên cạnh đó, năng lực tìm kiếm thị trường của các cơ quan chức năng, các doanh nghiệp còn yếu, dự báo thông tin giá cả thiếu chính xác, thiếu nguồn thông tin về thị trường xuất khẩu cũng như xu hướng tiêu dùng tại một số thị trường cụ thể.

Với mục tiêu nâng cao giá trị và sức cạnh tranh của mặt hàng nông sản Việt Nam, Bộ NN&PTNT đã ban hành Quyết định 1003 về nâng cao giá trị gia tăng hàng nông lâm thủy sản trong chế biến và giảm tổn thất sau thu hoạch, xác định đến năm 2020 giá trị gia tăng các ngành hàng nông, lâm, thủy sản phải tăng bình quân 20% và giảm tổn thất sau thu hoạch 50% so với tỉ lệ hiện nay. Bên cạnh đó là các giải pháp về tổ chức sản xuất theo hướng tăng cường liên kết sản xuất nguyên liệu, chế biến tiêu thụ, chuyển dịch cơ cấu sản phẩm, nâng cao giá trị gia tăng, chất lượng an toàn thực phẩm và hạ giá thành sản phẩm… Về lâu dài, Việt Nam cần chuyển biến từ gia tăng về lượng sang gia tăng về chất, mở rộng sang công đoạn có giá trị cao hơn và đặc biệt cần chú trọng khâu xây dựng thương hiệu cho sản phẩm để tự mình có thể bán sản phẩm đến tay người tiêu dùng bằng thương hiệu của chính mình.

Ước tính xuất khẩu nhóm nông, lâm, thủy sản trong 10 tháng năm 2017

(ĐVT: Lượng: nghìn tấn; Kim ngạch: triệu USD)

Tên hàng

Ước thực hiện tháng 10/2017

So với tháng 9/2017 (%)

So với tháng 10/2016 (%)

Ước thực hiện 10 tháng 2017

So với 10 tháng năm 2016 (%)

Lượng

Trị giá

Lượng

Trị giá

Lượng

Trị giá

Lượng

Trị giá

Lượng

Trị giá

Tổng kim ngạch xuất khẩu

 

19.400

 

0,3

 

26,2

 

173.721

 

20,7

DN 100% vốn trong nước

 

5.210

 

2,4

 

24,3

 

48.232

 

17,2

DN có vốn ĐTNN

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 - Có cả dầu thô

 

14.190

 

-0,4

 

26,9

 

125.489

 

22,1

 - Không kể dầu thô

 

14.000

 

-0,3

 

27,7

 

123.103

 

22,1

Nhóm nông, thủy sản

 

2.088

 

-6,6

 

7,4

 

21.316

 

17,1

Tỷ trọng

 

10,8

 

 

 

 

 

12,3

 

 

Thủy sản

 

800

 

1,7

 

11,2

 

6.793

 

18,7

Rau quả

 

240

 

-14,3

 

35,5

 

2.866

 

42,7

Hạt điều

34

339

2,0

1,4

2,4

15,6

292

2.900

0,7

24,4

Cà phê

80

185

0,6

-1,2

-31,6

-24,1

1.183

2.708

-22,0

-1,8

Chè

13

22