Thông tin truy cập
 
Số lượt truy cập : 348064
Khách trực tuyến : 795
Thành viên trực tuyến : 6
 
Thực hiện sáng tạo quan điểm phát triển kinh tế tri thức
31/10/2012 - 11:24

Thực hiện sáng tạo quan điểm phát triển kinh tế tri thức

Đại hội XI Đảng Cộng sản Việt Nam, trên cơ sở tổng kết 25 năm đổi mới, 20 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, 10 năm thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế- xã hội 2001-2010 đã bổ sung và phát triển sáng tạo, toàn diện quan điểm, đường lối đổi mới và phát triển đất nước. Phát triển kinh tế tri thức là một trong những quan điểm có nhiều bổ sung và phát triển sáng tạo: “Phát triển kinh tế là nhiệm vụ trung tâm; thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước gắn với phát triển kinh tế tri thức... Phát triển khoa học và công nghệ nhằm mục tiêu đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, phát triển kinh tế tri thức, vươn lên trình độ tiên tiến của thế giới”1

Thực ra, quan điểm, đường lối phát triển kinh tế tri thức đã được Đảng ta chính thức đề cập tại Đại hội X: “Tranh thủ cơ hội thuận lợi do bối cảnh quốc tế tạo ra và tiềm năng, lợi thế của nước ta để rút ngắn quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa gắn với phát triển kinh tế tri thức, coi kinh tế tri thức là yếu tố quan trọng của nền kinh tế và công nghiệp hoá, hiện đại hoá.”

So với Đại hội X, sau 5 năm quán triệt và thực hiện, tới Đại hội XI, nhận thức về phát triển kinh tế tri thức đã có những đột phá được biểu hiện trên những điểm sau:

Một là, khẳng định vị thế trọng tâm của phát triển kinh tế tri thức trong phát triển kinh tế nói chung và công nghiệp hoá, hiện đại hoá nói riêng.

Nếu như  Đại hội X mới dừng ở việc xác định vị trí vai trò trọng tâm của công nghiệp hoá, hiện đại hoá và xem phát triển kinh tế tri thức trong quan hệ gắn với  đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, thì Đại hội XI đã xem phát triển kinh tế tri thức cùng với công nghiệp hoá và hiện đại hoá là nội dung trọng tâm của phát triển kinh tế, nhiệm vụ trung tâm của cả thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Chính vì vậy, đồng thời với việc thực hiện nhiệm vụ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, chúng ta cần chủ động, sáng tạo phát triển kinh tế tri thức và phải luôn xem đây là yêu cầu cấp thiết, nhiệm vụ trọng tâm của phát triển kinh tế, nhiệm vụ trung tâm của cả thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.

Hai là, khẳng định vai trò động lực của phát triển khoa học và công nghệ  đối với phát triển kinh tế tri thức, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.

Trong thời đại toàn cầu hoá, khoa học và công nghệ có bước phát triển nhảy vọt ngày càng trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, sẽ không thực hiện được nhiệm vụ phát triển kinh tế tri thức một khi đứng ngoài, không quan tâm tới phát triển khoa học và công nghệ,

Thực ra, từ những thập niên cuối thế kỷ XX cho tới nay, khoa học và công nghệ đã có những bước phát triển kỳ diệu, đặc biệt là sự bùng nổ và sự hội tụ của công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ nanô, đúng như những tiên đoán của C. Mác và Ph. Ăngghen từ giữa thế kỷ XIX,  “khoa học sẽ trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp”; “giá trị của lao động cơ bắp trong sản phẩm làm ra sẽ giảm còn cực nhỏ”; “lực lượng sản xuất tinh thần”; “sự xuất hiện công nhân khoa học”... thúc đẩy mạnh mẽ quá trình chuyển đổi từ nền kinh tế công nghiệp sang  nền kinh tế tri thức.

Ba là, Đại hội XI không chỉ xác định vị trí, vai trò, phương thức thực hiện kinh tế tri thức ở nước ta, mà còn xác định: Phát triển khoa học và công nghệ nhằm mục tiêu đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, phát triển kinh tế tri thức, vươn lên trình độ tiên tiến của thế giới.

Vậy là, phát triển khoa học và công nghệ để đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, phát triển kinh tế tri thức là sự lựa chọn “khôn ngoan” phù hợp với xu thế phát triển của thời đại toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế.

Bốn là, phát triển khoa học và công nghệ, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, phát triển kinh tế tri thức là con đường “rút ngắn” của  quá trình phát triển đất nước.

Thực tế lịch sử đã chứng minh, trong thời đại toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế, tất cả các nước có xuất phát điểm thấp, muốn vươn lên trình độ tiên tiến của thế giới không có con đường nào khác ngoài việc phát triển khoa học và công nghệ, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá gắn với phát triển kinh tế tri thức . Đây cũng chính là xu thế khách quan của thời đại toàn cầu hoá; đồng thời cũng là con đường “rút ngắn” của quá trình công nghiệp hoá theo hướng hiện đại nhằm chuyển nền kinh tế nông nghiệp thành nền kinh tế công nghiệp- tri thức và nền kinh tế tri thức.

 Nước ta từ một nước nông nghiệp đi lên, trong bối cảnh toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế để phát triển nền kinh tế tri thức cần tiến hành đồng thời và lồng ghép của hai quá trình: quá trình chuyển từ kinh tế nông nghiệp lên kinh tế công nghiệp và quá trình chuyển từ kinh tế công nghiệp lên kinh tế tri thức, trong đó nhất thiết phải bắc được những “nhịp cầu trung gian”, “những nấc thang quá độ” để thực hiện những bước chuyển mang tính đột phá, cách mạng trong quá trình phát triển. Đây là cả một sự nghiệp vô cùng khó khăn, phức tạp vì đối với các nước đi trước để thực hiện bước chuyển này chỉ là hai quá trình kế tiếp nhau, còn đối với nước ta để thực hiện bước phát triển ”rút ngắn” đòi hỏi phải kết hợp các bước đi tuần tự với các bước phát triển nhảy vọt. Một mặt, tận dụng lao động, cơ sở vật chất hiện có, sử dụng tri thức mới, công nghệ mới để phát triển sản xuất, tạo việc làm, tăng thu nhập. Mặt khác, đi thẳng vào hiện đại ở những khâu, những lĩnh vực, những ngành có lợi thế, phát triển các ngành, các vùng kinh tế mũi nhọn tạo thành đầu tàu có sức lôi kéo mạnh toàn bộ nền kinh tế đi lên.

Bởi vậy, việc chuyển nền kinh tế theo hướng phát triển chủ yếu dựa vào tri thức trở thành yêu cầu cấp thiết, không thể trì hoãn. Bỏ lỡ thời cơ lớn này, Việt Nam sẽ tụt hậu sâu hơn và đó là hiểm họa cho dân tộc.

Trên tinh thần tiếp tục đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công ngfhiệp theo hướng hiện đại, Đại hội XI đã khẳng định: “Để xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, phải tiếp tục đổi mới toàn diện, mạnh mẽ với chất lượng và hiệu quả cao hơn; đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá gắn với phát triển kinh tế tri thức; phát triển kinh tế thị trường gắn với giải quyết hài hoà các vấn đề xã hội, môi trường; xây dựng nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc làm nền tảng tinh thần của xã hội...”2

Nhận thức về phát triển kinh tế tri thức đã có những đột phá, đòi hỏi việc thực hiện cũng phải có những sáng tạo và những đột phá tương ứng. Trong vài ba thập niên đầu của thế kỷ XXI, để thực hiện có kết quả  sự phát triển kinh tế tri thức Việt Nam, cần thiết phải được nhìn nhận và giải quyết trước hết ở tầm vĩ mô, tất nhiên có tính đến những điều kiện cụ thể của mỗi địa phương, cơ sở, nhất là những doanh nghiệp sản xuất kinh doanh. Thực hiện Nghị quyết Đại hội XI nói chung, chủ trương, đường lối  phát triển kinh tế tri thức nói riêng  đòi hỏi mỗi địa phương, cơ sở phải xây dựng được chương trình hành động phù hợp, sáng tạo. Song điều quan trọng trên hết, đòi hỏi Đảng, Nhà nước cần xây dựng một chương trình tổng thể trong đó chí ít cần tính tới việc thực hiện quyết liệt những giải pháp mang tính đột phá sau: 

Thứ nhất, đẩy mạnh công cuộc cải cách giáo dục và đào tạo theo hướng nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng, trọng dụng và phát huy nhân tài.

Cải cách triệt để nền giáo dục được coi là “đột phá khẩu”, bởi nó hướng tới việc đào tạo, bồi dưỡng và phát huy nguồn nhân lực có chất lượng cao cho quá trình tái cơ cấu nền kinh tế, tăng lợi thế cạnh tranh bảo đảm phát triển nhanh, hiệu quả, bền vững kinh tế - xã hội, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, phát triển kinh tế tri thức. Chiến lược phát triển kinh tế- xã hội 2011- 2020 khẳng định “Phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao là một đột phá chiến lược, là yếu tố quyết định quá trình cơ cấu lại nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng và là lợi thế cạnh tranh dài hạn, bảo đảm kinh tế - xã hội phát triển nhanh, hiệu quả, bền vững... Thực hiện các chương trình, đề án đào tạo nhân lực chất lượng cao đối với các ngành, lĩnh vực chủ yếu, mũi nhọn. Chú trọng phát hiện, bồi dưỡng, phát huy nhân tài; đào tạo nhân lực cho phát triển kinh tế tri thức”.

Thứ hai, đẩy mạnh phát triển khoa học - công nghệ, chú trọng vào việc việc ứng dụng, sáng tạo công nghệ cao làm động lực cho đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, phát triển kinh tế tri thức.

Đã từ lâu, chúng ta quan tâm tới việc phát triển khoa học và công nghệ, song trong lĩnh vực công nghệ chúng ta chưa tập trung vào việc ứng dụng và sáng tạo, phát triển công nghệ cao, nên trong thực tế, một mặt, chúng ta không tạo được động lực cho phát triển, mặt khác, với việc ứng dụng công nghệ lạc hậu một hậu quả tất yếu là sẽ cản trở công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, cản trở sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế, kìm hãm sự phát triển kinh tế- xã hội. Đã đến lúc cần phải “tuyên chiến” với công nghệ lạc hậu và chỉ chấp nhận nhập khẩu, ứng dụng và đầu tư sáng tạo công nghệ cao đồng thời với việc sử dụng có hiệu quả những công nghệ hiện có. Là nước đi sau, Việt Nam có thể bỏ qua các thế hệ công nghệ trung gian để đi ngay vào các công nghệ tiên tiến, công nghệ cao, không lệ thuộc vào cơ sở hạ tầng đã có. Trong các lĩnh vực công nghiệp dựa vào tri thức, nhất là công nghệ thông tin, chúng ta có thể chọn một số lĩnh vực để bứt phá lên trước  “ Phát triển mạnh khoa học, công nghệ làm động lực đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, phát triển kinh tế tri thức; góp phần tăng nhanh năng suất, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế, sự phát triển nhanh, bền vững của đất nước; nâng tỉ lệ đóng góp của yếu tố năng suất tổng hợp vào tăng trưởng. Thực hiện đồng bộ ba nhiệm vụ chủ yếu: nâng cao năng lực khoa học, công nghệ; đổi mới cơ chế quản lý; đẩy mạnh nghiên cứu ứng dụng... Nhà nước tăng mức đầu tư và ưu tiên đầu tư cho các nhiệm vụ, các sản phẩm khoa học, công nghệ trọng điểm quốc gia, đồng thời đẩy mạnh xã hội hoá, huy động mọi nguồn lực, đặc biệt là của các doanh nghiệp cho đầu tư phát triển khoa học, công nghệ”.

 Thứ ba, tiếp tục đổi mới, phát huy vai trò quản lý xã hội, trọng tâm là quản lý vĩ mô nền kinh tế của Nhà nước.

Không phủ nhận vai trò của Nhà nước ta trong quản lý xã hội những năm đổi mới, song so với yêu cầu phát triển của đất nước và so với các nước trong khu vực chúng ta không khỏi không băn khoăn, lo lắng, trước tình trạng nền hành chính còn nhiều bất cập, nạn tham nhũng còn gây nhiều bức xúc cho xã hội: “Cải cách hành chính chưa đạt yêu cầu đề ra; thủ tục hành chính còn gây phiền hà cho tổ chức và công dân. Năng lực dự báo, hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước trên một số lĩnh vực yếu...Công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí chưa đạt được yêu cầu đề ra. Quan liêu, tham nhũng, lãng phí vẫn còn nghiêm trọng, với những biểu hiện tinh vi, phức tạp, chưa được ngăn chặn, đẩy lùi, gây bức xúc xã hội” .

Đã đến lúc cần nêu cao vai trò của Nhà nước trong quản lý xã hội  trong việc tạo hành lang pháp lý, tạo điều kiện và cơ hội, tạo môi trường thể chế cho phát triển. Tất nhiên, phù hợp với sự phát triển kinh tế và khả năng huy động các nguồn lực Nhà nước cần đầu tư có trọng điểm trong việc cải thiện kết cấu hạ tầng cũng như  cơ sở hạ tầng xã hội cho sự phát triển bền vững.

GS. TS Dương Xuân Ngọc

1 - Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI, nxb CTQG, H.,2011, trang 78

2 - Sđd, trang 154

 

  Gửi tin phản hồi Gửi Email In bài viết
Ý kiến bạn đọc gửi
Tin tức này chưa có ý kiến nào
Nghiên cứu phát triển thuốc mới từ thảo dược và dược liệu biển
Thời gian: 12/12/2018 - 16:22
Đây là tên Hội thảo quốc tế do trường Đại học Y dược Hải Phòng phối hợp với Trung tâm Khoa học và công nghệ các nước thuộc Phong trào không liên kết và các nước đang phát triển tổ chức từ ngày 10 đến ngày 12 tháng 12 năm 2018 tại Hải Phòng.
Tin mới
Nghiên cứu phát triển thuốc mới từ thảo dược và dược liệu biển
Năm 2019, Hải Phòng sẽ áp dụng 5S trong quản lý chất lượng tại các bệnh viện
Ngày hội tuổi trẻ sáng tạo xây dựng thành phố
Hải Phòng: Tập huấn công tác đảm bảo an toàn thông tin trong các cơ quan Nhà nước năm 2018
Hải Phòng: Hỗ trợ xác lập Nhãn xanh cho các sản phẩm đặc thù của thành phố
Hải Phòng: 100% Sở, Ban ngành, Ủy ban nhân dân các quận huyện hoàn thành áp dụng Hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn quốc gia TCVN ISO 9001:2015
Khai bút đầu xuân - Một nét văn hóa mới tại Hải Phòng
Nâng cao chất lượng doanh nghiệp khoa học công nghệ qua công cụ quản lý
Endophyte và các giải pháp thông minh trong trồng trọt
Cần làm gì để phát huy dân chủ trong công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật đảng?
Định hướng khởi nghiệp đổi mới sáng tạo và phát triển trong quy hoạch và xây dựng thành phố thông minh
Nghiên cứu luận cứ khoa học phục vụ xây dựng chiến lược đối ngoại của thành phố Hải Phòng đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2035
Giải bóng đá Khối thi đua Văn hóa, Xã hội - Khoa học và Công nghệ
Viện Khoa học Vật liệu - Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam: Chế tạo thành công hệ thống thiết bị chống ăn mòn catot sử dụng dòng điện ngoài
Thí điểm thành công mô hình hợp tác xã chăn nuôi tại Kiến Thụy