Thứ sáu, ngày 28 tháng 02 năm 2020
Thông tin trao đổi
Lịch sử phát triển
Chức năng nhiệm vụ
Tổ chức bộ máy
Kế hoạch mở lớp
Hệ đào tạo
Hệ bồi dưỡng
Nội san
Đề tài khoa học
Hội thảo, thông tin khoa học
Thông tin liên quan
Hoạt động của Trường
Thông tin Đảng - Đoàn thể
Thông tin Đào tạo - Bồi dưỡng
Thông tin khoa học
Văn nghệ
Văn bản Trung ương
Văn bản Thành phố
Văn bản của Trường
Nghiên cứu thực tế
Đảng - Đoàn thể
Đảng ủy
Công đoàn
Đoàn thanh niên
Hội cựu chiến binh
Trang chủ
Giới thiệu trường
Đào tạo - Bồi dưỡng
Nghiên cứu khoa học
Quản lý văn bản
Dữ liệu ảnh
Liên hệ
 
Số lượng truy cập:

Khách trực tuyến: website counter
Tìm hiểu về tên gọi của quân đội nhân dân Việt Nam qua các thời kỳ
18/12/2019 - 08:41
TÌM HIỂU VỀ TÊN GỌI CỦA QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM
QUA CÁC THỜI KỲ
Th.s Nguyễn Thị Vân - Khoa Xây dựng Đảng

Trải qua 75 năm chiến đấu, xây dựng và trưởng thành, quân đội nhân dân Việt Nam ngày càng lớn mạnh, cùng toàn Đảng, toàn dân vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách, lập được nhiều chiến công hiển hách, đánh thắng mọi kẻ thù xâm lược, góp phần to lớn vào sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Nhân kỷ niệm 75 ngày thành lập quân đội nhân dân Việt Nam, chúng ta cùng tìm hiểu tên gọi của quân đội ta qua các thời kỳ lịch sử.
1. Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân. Đây là tên của đội quân chủ lực của Mặt trận Việt Minh từ tháng 12-1944 đến tháng 5-1945. Tổ chức quân sự này được coi là tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam. Ngày thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân, 22-12-1944, sau này đã được chọn làm ngày thành lập của Quân đội nhân dân Việt Nam...
Cuối năm 1944, trước đòi hỏi của tình hình đấu tranh cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận thấy đến lúc phải thành lập một lực lượng vũ trang chủ lực, nòng cốt lấy từ các cán bộ, đội viên du kích năng nổ. Bác và Ban thường vụ Trung ương Đảng chỉ định đồng chí Võ Nguyên Giáp đảm nhiệm công việc thành lập lực lượng vũ trang tập trung. Trong “Chỉ thị thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân” của Bác Hồ, đã nói rõ ý nghĩa lịch sử, nhiệm vụ của đội quân chủ lực đầu tiên: “Tên: Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân, nghĩa là chính trị quan trọng hơn quân sự. Nó là đội tuyên truyền. Vì muốn có kết quả thì về quân sự, nguyên tắc chính là tập trung lực lượng, cho nên, theo chỉ thị mới của Đoàn thể, sẽ chọn lọc trong hàng ngũ những du kích Cao - Bắc - Lạng số cán bộ và đội viên kiên quyết, hăng hái nhất và sẽ tập trung một phần lớn vũ khí để lập ra đội chủ lực.
2. Việt Nam Giải phóng quân. Đây là tên gọi của quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam từ tháng 5 đến tháng 11-1945. Việt Nam Giải phóng quân thành lập ngày 15-5-1945, tại Định Biên Thượng (Chợ Chu, Thái Nguyên) trên cơ sở thống nhất từ các đơn vị Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân, Cứu quốc quân cùng các tổ chức vũ trang cách mạng tập trung của cả nước, theo nghị quyết của Hội nghị quân sự Bắc Kỳ (tháng 4-1945) họp tại Hiệp Hòa (Bắc Giang).
Tổ chức này được hợp nhất trong lúc cả nước đang sục sôi không khí cách mạng, chiến tranh thế giới lần thứ 2 bước vào những ngày kết thúc. Theo lệnh Tổng khởi nghĩa của Trung ương Đảng, của Tổng bộ Việt Minh và lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, cả nước đứng dậy. 14 giờ ngày 16-8-1945, đơn vị chủ lực của Việt Nam giải phóng quân xuất phát từ Tân Trào tiến đánh thị xã Thái Nguyên. Mục tiêu tiến công của Giải phóng quân lúc này không còn là những đồn bốt, châu lỵ mà là những căn cứ chính của địch, các thị trấn, thị xã. Ngày 15-8-1945, quân Nhật đầu hàng. Tuyên Quang được giải phóng. Thắng lợi của cuộc đánh chiếm các tỉnh lỵ Thái Nguyên, Tuyên Quang là thắng lợi của Quân giải phóng đã phối hợp chặt chẽ với lực lượng chính trị, dùng cả quân sự, chính trị và binh vận để tiến công địch. Chỉ trong vòng nửa tháng (từ 14 đến 28-8-1945), Tổng khởi nghĩa tháng Tám đã thắng lợi trong cả nước. Chính quyền cách mạng của nhân dân được thành lập từ Trung ương đến khắp các thôn xã. Ngày 2-9-1945, tại quảng trường Ba Đình Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn độc lập, tuyên bố nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa ra đời. 
3. Vệ quốc đoàn. Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vừa mới ra đời đã lâm vào tình thế hiểm nghèo “ngàn cân treo sợi tóc”, thù trong, giặc ngoài bao vây. Ở phía Bắc, quân đội Tưởng Giới Thạch tiến vào giải giáp quân Nhật. Ở phía Nam, thực dân Anh mở đường cho thực dân Pháp tiến vào với âm mưu biến Việt Nam trở về thời kỳ thuộc địa. Lúc này, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta tiến hành sách lược mềm dẻo “Dĩ bất biến, ứng vạn biến”, để giữ vững nền độc lập non trẻ. Trước tình hình mới, Đảng tuyên bố “tự giải tán”, chuyển sang hoạt động bí mật. Để nhân nhượng với yêu sách của quân Trung Hoa dân quốc đòi giải tán quân đội chính quy, tháng 11-1945, Việt Nam giải phóng quân đổi tên thành Vệ quốc đoàn (còn gọi là Vệ quốc quân). Lúc này quân số quân đội ta khoảng 50.000 người, tổ chức thành khoảng 40 chi đội ở hầu hết các tỉnh Bắc Bộ và Trung Bộ. Một số chi đội đã “Nam tiến” để giúp quân dân miền Nam chống lại thực dân Pháp đang tấn công xâm lược trở lại ở Nam Bộ.
4. Quân đội Quốc gia Việt Nam: Ngày 22-5-1946, theo Sắc lệnh 71/SL của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Vệ quốc đoàn đổi tên thành Quân đội Quốc gia Việt Nam, được đặt dưới sự chỉ huy tập trung thống nhất của Bộ Tổng tham mưu. Quân đội lúc này tổ chức biên chế thống nhất theo trung đoàn, tiểu đoàn, đại đội… Cùng với việc xây dựng quân đội quốc gia, Chính phủ ta đặc biệt coi trọng việc xây dựng lực lượng vũ trang quần chúng, lực lượng bán vũ trang, bao gồm: dân quân ở nông thôn và tự vệ ở đô thị, nhờ đó quân đội ta ngày càng phát triển cả về số lượng và chất lượng.
5. Quân đội nhân dân Việt Nam. Từ năm 1950, khi cuộc kháng chiến chống Pháp bước vào giai đoạn phát triển mới, Quân đội Quốc gia Việt Nam được đổi tên thành Quân đội nhân dân Việt Nam. Tên gọi "Quân đội nhân dân" là do Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt với ý nghĩa "từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu, vì nhân dân phục vụ". Cũng thời gian này, các đại đoàn (đơn vị tương đương sư đoàn) chủ lực quan trọng như các đại đoàn 308, 304, 312, 320, 316, 325, 351 lần lượt được thành lập, đến nay vẫn là những đơn vị chủ lực của Quân đội nhân dân Việt Nam. Từ một đội quân chỉ vài trăm người khi tham gia Tổng khởi nghĩa tháng Tám, Quân đội nhân dân Việt Nam đã phát triển thành quân đội với các sư đoàn chủ lực mạnh, lập nên những chiến công lẫy lừng mà đỉnh cao là chiến thắng Điện Biên Phủ lịch sử ngày 7-5-1954, kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Pháp.
Sau khi Hiệp định Giơnevơ năm 1954 được ký kết, đất nước Việt Nam tạm thời bị chia cắt thành hai miền. Cách mạng Việt Nam đồng thời thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược là xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh thống nhất đất nước. Nhiệm vụ của quân đội thời kỳ này là vừa xây dựng chính quy, bảo vệ miền Bắc xã hội chủ nghĩa vừa tham gia đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Ngày 15-2-1961, Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam, lực lượng quân sự của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam được thành lập trên cơ sở thống nhất lực lượng vũ trang tại chỗ và lực lượng tăng viện từ miền Bắc. Trước sự can thiệp trực tiếp của quân đội Mỹ, Quân đội nhân dân Việt Nam đã sát cánh cùng với nhân dân và các lực lượng vũ trang khác, tiến hành chiến tranh trường kỳ, gian khổ, lập nên những kỳ tích mà tiêu biểu là cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân năm 1968, chống chiến tranh phá hoại bằng không quân, hải quân của Mỹ ở miền Bắc mà đỉnh cao là chiến dịch “Điện Biên Phủ trên không” tháng 12-1972; kết thúc thắng lợi bằng chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử vào ngày 30-4-1975, thống nhất đất nước, mở ra thời kỳ phát triển mới cho đất nước. Như vậy, Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam là một bộ phận không tách rời của Quân đội nhân dân Việt Nam. Thực tế lịch sử cho thấy, dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, Quân giải phóng miền Nam Việt Nam đã hoàn thành sứ mệnh, vai trò lịch sử vẻ vang của mình. Sau năm 1975, đất nước thống nhất, Quân giải phóng miền Nam Việt Nam hợp nhất với Quân đội nhân dân Việt Nam, thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam: Xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN.
Kỷ niệm 75 năm Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam, 30 năm Ngày hội Quốc phòng toàn dân, qua tìm hiểu các tên gọi của quân đội ta trong các giai đoạn lịch sử sẽ góp phần giúp chúng ta ôn lại lịch sử, truyền thống vẻ vang, những chiến công oanh liệt của Quân đội và nhân dân ta. Qua đó, khơi dậy niềm tự hào, nâng cao lòng yêu nước, yêu CNXH; nâng cao ý chí quật cường, ý thức tự lực, tự cường vượt qua mọi khó khăn, thử thách, ra sức xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh, xây dựng Quân đội Nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn mới của cách mạng.
  Gửi tin phản hồi Gửi Email In bài viết
Ý kiến bạn đọc gửi
Tin tức này chưa có ý kiến nào
Các tin đã đưa
Đảng ta 90 mùa Xuân(01/02/2020 - 15:21)
Tìm hiểu về tên gọi của quân đội nhân dân Việt Nam qua các thời kỳ(18/12/2019 - 08:41)
Chặng đường 20 năm - Hội Cựu chiến binh Trường Chính trị Tô Hiệu(18/12/2019 - 08:30)
30 năm ngày hội quốc phòng toàn dân - ngày hội phát huy truyền thống yêu nước và sức mạnh đại đoàn kết dân tộc(17/12/2019 - 09:31)
Truyền thống 75 năm vẻ vang của Quân đội Nhân dân Việt Nam anh hùng(16/12/2019 - 08:39)
Một số vấn đề xây dựng cổng thông tin điện tử trường chính trị góp phần đảm bảo các tiêu chí trường chính trị chuẩn trong thời gian tới(08/10/2019 - 10:15)
Chi bộ Khoa Lý luận cơ sở tổ chức sinh hoạt chuyên đề Quý 3 năm 2019(25/09/2019 - 08:09)
SỰ CẦN THIẾT XÂY DỰNG PHONG CÁCH NHÀ GIÁO TRƯỜNG CHÍNH TRỊ TÔ HIỆU(20/11/2018 - 05:17)
SUY NGHĨ VỀ VAI TRÒ, TRÁCH NHIỆM CỦA NGƯỜI THẦY TRONG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH(19/11/2018 - 14:11)
TÌM HIỂU VÀI NÉT VỀ NỮ QUYỀN(20/10/2018 - 10:23)
Vĩnh biệt Chủ tịch nước Trần Ðại Quang - nhà lãnh đạo tận tâm, trách nhiệm(27/09/2018 - 09:02)
CÁCH MẠNG THÁNG 8 NĂM 1945 MỞ RA KỶ NGUYÊN ĐỘC LẬP DÂN TỘC VÀ ĐẶT NỀN MÓNG CHO XÂY DỰNG NỀN DÂN CHỦ CỦA NƯỚC VIỆT NAM MỚI(18/08/2018 - 08:41)
Chuyển trang    
Trang số:  1/3
Số bản ghi trên trang:
Thông tin truy cập
 
Số lượt truy cập : 9863
Khách trực tuyến : 869
Thành viên trực tuyến : 0