Hải Phòng, ngày 22 tháng 11 năm 2019

Hoạt động xổ số:Vừa đáp ứng nhu cầu của người dân, vừa góp phần vào sự nghiệp phát triển KT-XH

Hơn 50 năm qua, hoạt động xổ số đã không ngừng phát triển với phương châm “Vừa ích nước - vừa lợi nhà”, từng bước đáp ứng được nhu cầu vui chơi giải trí lành mạnh của một bộ phận người dân và đồng thời huy động được nguồn lực tài chính đáng kể để góp phần vào sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội của đất nước.

Ảnh minh hoạ: HMT

Nộp vào NSNN đầu tư vào lĩnh vực y tế, giáo dục và các công trình phúc lợi quan trọng

Khởi đầu hoạt động xổ số chỉ có một loại hình sản phẩm duy nhất là xổ số truyền thống với hình thức trả thưởng bằng hiện vật được tổ chức tại một số địa phương, đến nay hoạt động xổ số đã có nhiều loại hình sản phẩm khác nhau: xổ số truyền thống, xổ số tự chọn số, xổ số cào biết kết quả ngay, xổ số bóc biết kết quả ngay và  63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đều có Công ty XSKT để tổ chức hoạt động kinh doanh xổ số.

Hoạt động kinh doanh xổ số đã tạo việc được làm cho khoảng trên 300.000 người lao động thuộc các đối tượng chính sách, người nghèo, người không nơi nương tựa có mức thu nhập ổn định, đáp ứng nhu cầu vui chơi giải trí chính đáng của một một bộ phận người dân, đồng thời tạo ra kênh quan trọng để huy động nguồn vốn sử dụng đầu tư vào lĩnh vực y tế, giáo dục và các công trình phúc lợi quan trọng của các địa phương.

Trong những năm qua (2007 - 2012) tốc độ tăng trưởng doanh thu và nộp ngân sách từ hoạt động xổ số đạt bình quân trên 15%/năm. Riêng năm 2012, doanh thu hoạt động kinh doanh xổ số là 53.893 tỷ đồng, và nộp NSNN 16.620 tỷ đồng, trong đó khu vực phía Nam có doanh thu chiếm khoảng 90% doanh thu cả nước. Toàn bộ nguồn thu xổ số được sử dụng để đầu tư vào lĩnh vực y tế, giáo dục và các công trình phúc lợi quan trọng của các địa phương, phù hợp với mục tiêu của hoạt động xổ số là tiền của người dân được đầu tư trở lại cho người dân.

Tài chính của các Công ty XSKT được cải thiện - Công tác phát hành được duy trì ổn định

Từ khi Chính phủ ban hành Nghị định số 30/2007/NĐ-CP ngày 01/3/2007 về kinh doanh xổ số và Bộ Tài chính ban hành đồng bộ các Thông tư hướng dẫn về hoạt động và chế độ tài chính. Theo đó, chế độ tài chính của các Công ty XSKT ngày càng được cải thiện, công tác quản lý phát hành được duy trì ổn định, quyền lợi người chơi ngày càng được đảm bảo. Để bảo vệ quyền lợi của người chơi, theo quy định tại Thông tư số 65/2007/T-BTC ngày 18/6/2007 của Bộ Tài chính, bắt buộc các Công ty XSKT phải in đủ số lượng vé theo thông báo phát hành (in đủ sery vé), trường hợp in vé không đủ số lượng theo thông báo phát hành sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định tại Nghị định số 105/2010/NĐ-CP ngày 27/10/2010 của Chính phủ. Đồng thời để đảm bảo nâng cao tỷ lệ tiêu thụ vé, Bộ Tài chính đã thực hiện khống chế hạn mức doanh số phát hành đối với các Công ty XSKT tại khu vực miền Nam (từ năm 2007) và khu vực miền Trung (từ năm 2011). Theo đó, tỷ lệ tiêu thụ vé tại khu vực miền Nam đã tăng lên đáng kể từ 29% năm 2007 lên đến 67% năm 2012 và dự kiến đạt 77% năm 2013. Đối với khu vực miền Trung cũng đã tăng từ 23% năm 2011 lên 30,5% năm 2012. Riêng khu vực miền Bắc do 80% doanh thu từ loại hình xổ số lô tô nên Bộ Tài chính không thực hiện khống chế hạn mức doanh số phát hành.

Hiện nay, cơ chế tài chính của Công ty XSKT được thực hiện theo quy định tại Thông tư số 112/2007/TT-BTC ngày 19/9/2007 của Bộ Tài chính, cơ chế này được xây dựng dựa trên các quy định của cơ chế tài chính đối với Công ty Nhà nước và hiện nay là Công ty TNHH một thành viên do Nhà nước làm chủ sở hữu. Tuy nhiên so với các Công ty TNHH một thành viên, cơ chế tài chính của Công ty XSKT được quy định chặt chẽ hơn. Ví dụ: Doanh thu từ bán vé xổ số, các Công ty XSKT phải nộp thuế GTGT (10%) và TTĐB (15%); Về chi phí, ngoài thực hiện tương tự như các doanh nghiệp khác và theo pháp luật thuế, trong đó Bộ Tài chính có khống chế các khoản chi mang tính đặc trưng của hoạt động xổ số, các Công ty XSKT phải chi trích lập dự phòng rủi ro trả thưởng, tương tự trích lập dự phòng giảm giá phản ánh đặc thù và một số khoản chi khác; Về lợi nhuận, ngoài thực hiện nộp thuế TNDN 25%, trích lập các quỹ như doanh nghiệp kinh doanh thông thường khác, phần còn lại nộp hết vào NSNN để đầu tư xây dựng các công trình phúc lợi, xã hội quan trọng của các địa phương, doanh nghiệp không được bổ sung vào quỹ đầu tư phát triển để bổ sung vốn điều lệ.

Trên thực tế, số liệu năm 2012 cho thấy, trong tổng doanh thu 53.893 tỷ đồng thì: khoảng 30% là tiền nộp thuế (GTGT, TTĐB, TNDN, thu tài chính); khoảng từ 52% đến 53% là tiền trả thưởng cho khách hàng trúng thưởng; khoảng từ 12% đến 13% chi phí cho đại lý bán vé và khoảng 5% là chi phí in vé, quản lý doanh nghiệp và trích lập các quỹ (trong đó theo hợp đồng ký giữa Công ty XSKT với cơ sở in, giá thanh toán in vé hiện nay của các Công ty XSKT dao động từ 20 - 40 đồng/tờ vé đã bao gồm cả chi phí vận chuyển).

Từng bước hiện đại hoá hoạt động xổ số

Để từng bước hiện đại hóa hoạt động kinh doanh xổ số, theo Quyết định số 1109/QĐ-TTg ngày 11/7/2011 của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Tài chính đã thành lập Công ty XSĐT Việt Nam với phạm vi hoạt động trên địa bàn cả nước. Công ty XSĐT Việt Nam có trụ sở chính tại thành phố Hà Nội và có các chi nhánh tại một số tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương. Mục tiêu là bổ sung thêm sản phẩm ngoài các sản phẩm xổ số truyền thống nhằm đáp ứng thị hiếu của người chơi  Nguồn thu từ hoạt động kinh doanh xổ sổ điện toán được phân bổ dựa trên doanh thu thực tế phát sinh trên địa bàn để lại 100% cho các địa phương sử dụng đầu tư cho các mục tiêu y tế, giao dục, an sinh và phúc lợi xã hội theo quy định của pháp luật.

Theo Bộ Tài chính, định hướng chung về lâu dài, Công ty XSĐT Việt Nam sẽ cùng với các Công ty XSKT tại các địa phương hợp tác để kinh doanh các sản phẩm xổ số hiện đại để phục vụ nhu cầu vui chơi của người dân. Tuy nhiên, để triển khai việc này cần phải có lộ trình và phải có sự phối hợp chặt chẽ giữa Công ty XSĐT Việt Nam và các địa phương./.

(Theo Cổng thông tin điện tử Bộ Tài chính)