Hải Phòng, ngày 11 tháng 12 năm 2019

Bước đầu thống kê, phân loại văn bia trên địa bàn huyện Thủy Nguyên

Thủy Nguyên là địa phương có bề dày truyền thống lịch sử, văn hóa, là một vùng đất học của thành phố Hải Phòng, quê hương của Trạng nguyên Lê Ích Mộc, vị Trạng nguyên khai khoa của Thành phố Cảng và 17 vị đỗ đại khoa trong các khoa thi thời phong kiến. Cùng với quá trình hình thành và phát triển, huyện đang lưu giữ một kho tàng di sản văn hóa vật thể, phi vật thể phong phú, đa dạng và độc đáo. Di sản văn hóa của huyện là một bộ phận trong tổng thể của di sản văn hóa dân tộc Việt Nam, là tài sản vô giá của quá khứ truyền lại cho các thế hệ sau, đồng thời có vai trò to lớn trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.

Ngày 24/10/2012, Ban Chấp hành Đảng bộ huyện đã ban hành Nghị quyết số 26/NQ-HU về “Bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa huyện Thủy Nguyên”. Nghị quyết đã xác định rõ mục tiêu, quan điểm của Đảng bộ huyện về Bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa; khẳng định giá trị to lớn của di sản văn hóa trong quá trình xây dựng và phát triển của huyện;  xác định các giải pháp, lộ trình cụ thể để thực hiện các mục tiêu, trong đó xác định rõ đến năm 2015 phải tiến hành kiểm kê di vật, cổ vậy trên địa bàn huyện.

Hiện nay toàn huyện còn lưu giữ rất nhiều hiện vật quý về quá trình hình thành phát triển của cư dân, làng xã và huyện Thủy Nguyên trong đó có rất nhiều văn bản Hán Nôm có giá trị, đáng lưu ý hơn cả là hệ thông bia đá. Do biến thiên của thời gian, sự tàn phá của thời tiết, chiến tranh và con người, hệ thống văn bia trên địa bàn huyện đã bị thất lạc hoặc bị phá hủy rất nhiều. Đến nay theo thống kê của Thư viện Viện nghiên cứu Hán Nôm và Tiến sỹ Nguyễn Thị Kim Hoa trong bài viết “Nghiên cứu thống kê phân loại văn bia Hải Phòng”, huyện Thủy Nguyên còn lưu giữ 102 văn bia tại 24/37 xã chiếm 8,4% tổng số bia toàn thành phố, mật độ phân bố bia là 0,42 bia/1 km­2.

Về niên địa của các bia trên địa bàn huyện Thủy Nguyên cụ thể như sau:

Niên đại

Số lượng

Niên đại

Số lượng

Quảng Hòa  (1540-1546)

Đời vua Mạc Hiến Tông

01

Vĩnh Khánh (1729-1732)

Đời vua Lê Đế Duy Phường

07

Thuần Phúc (1562-1562)

Đời vua Mạc Hậu Hợp

02

Long Đức    (1732-1735)

Đời vua Lê Thuần Tông

02

Diên Thành (1578-1585)

Đời vua Mạc Hậu Hợp

02

Vĩnh Hựu   (1735-1740)

Đời vua Lê Ý Tông

02

Hoằng  Định (1601-1619)

Đời vua Lê Kính Tông

01

Cảnh Hưng   (1740-1786)

Đời vua Lê Hiển Tông

11

Vĩnh Tộ (1619-1629)

Đời vua Lê Thần Tông

01

Quang Trung  (1788-1792)

Đời vua Nguyễn Huệ

01

Đức Long  (1629-1935)

Đời vua Lê Thần Tông

03

Cảnh Thịnh (1793-1801)

Đời vua Nguyễn Quang Toản

04

Dương Hòa (1635-1643)

Đời vua Lê Thần Tông

01

Bảo Hưng     (1801-1802)

Đời vua Nguyễn Quang Toản

02

Phúc Thái (1643-1649)

Đời vua Lê Chân Tông

01

Minh Mạng  (1820-1840)

Đời vua Nguyễn Thế Tổ

04

Khánh Đức (1649-1653)

Đời vua Lê Thần Tông

01

Thiệu Trị (1840-1847)

Đời vua Nguyễn Hiến Tổ (Miên Tông)

01

Cảnh Trị (1663-1671)

Đời vua Lê Huyền Tông

01

Tự Đức (1848-1883)

Đời vua Nguyễn Dực Tông

03

Vĩnh Trị  (1676-1679)

Đời vua Lê Hy Tông

02

Đồng Khánh (1886-1888)

Đời vua Nguyễn Cảnh Tông

01

Chính Hòa  (1680-1705)

Đời vua Lê Hy Tông

16

 Thành Thái (1889-1907)

Đời vua Nguyễn Thành Thái (B.Sung)

01

Vĩnh Thịnh (1705-1720)

Đời vua Lê Dụ Tông

17

Bảo Đại (1925-1945)

Đời vua Nguyễn Bảo Đại (B.Sung)

01

Bảo Thái (1720 -1729)

Đời vua Lê Dụ Tông

07

Không niên đại

07

(Phần bổ sung: là những nội dung Phòng VH & TT huyện bổ sung thêm theo bản kiểm kê hiện vật các di tích được xếp hạng trên địa bàn huyện)

Như vậy, trên địa bàn huyện Thủy Nguyên đến nay văn bia còn lưu lại sớm nhất vào thời nhà Mạc (1572-1638), thời kỳ Lê Trung Hưng tập trung số lượng bia nhiều nhất gồm 73 văn bia từ thời vua Lê Kính Tông đến vua Lê Hiển Tông.

 Đây là danh sách được tổng hợp qua các thác bản của Thư viện nghiên cứu Hán Nôm lưu trữ. Tuy nhiên, qua khảo sát điền dã tại các di tích còn nhận thấy còn một số bia, của các thời kỳ chưa được tổng hợp trong danh sách ví dụ như những văn bia niên đại Duy Tân, Thành Thái, Bảo Đại… và các niên đại khác, hoặc các văn bia được phát hiện trong quá trình tu bổ, phục hồi di tích. Trong thời gian tiếp theo, Phòng Văn hóa và Thông tin huyện tiếp tục thống kê, hoàn chỉnh.

Về số lượng văn bia từng xã trong huyện:

TT

Tên xã

Tên di tích

Số lượng di tích có bia

Số lượng bia

Tổng số

1

An Lư

Đình

Chùa

Miếu

1

1

1

1

3

1

 

05

2

An Sơn

Đình

Chùa

2

2

3

3

06

3

Cao Nhân

Chùa

Từ Vũ

1

1

8

2

10

4

Chính Mỹ

Chùa

Văn Từ

1

1

1

2

 

03

5

Dương Quan

Miếu

1

2

02

6

Đông Sơn

Chùa

1

1

01

7

Hoa Động

Đình

Chùa

1

2

2

2

04

8

Hoàng Động

Chùa

1

3

03

9

Hợp Thành

Đình

Chùa

Từ Đường

1

2

1

1

5

4

10

10

Kiền Bái

Chùa

1

4

04

11

Lâm Động

Đình

Từ Văn

Chùa (b.sung)

1

1

1

1

2

4

07

12

Mỹ Đồng

Chùa

1

1

01

13

Ngũ Lão

Chùa

Chợ

3

1

4

1

05

14

Phù Ninh

Đình

Chùa

Quán

1

1

1

3

3

1

07

15

Phục Lễ

Chùa

Văn Chỉ

1

1

3

2

05

16

Quảng Thanh

Chùa

2

3

03

17

Tam Hưng

Chùa

3

7

07

18

Tân Dương

Chùa

Đình (b.sung)

1

1

1

6

07

19

Trung Hà

Đình

1

1

01

20

Thiên Hương

Chùa

Văn Chỉ

1

1

7

2

09

21

Thủy Đường

Đình

Chùa

Miếu

1

4

1

1

5

1

07

22

Thủy Triều

Chùa

1

2

02

23

Thủy Sơn

Từ Đường

1

2

02

24

Hòa Bình

Chùa

Đình (b.sung)

Nghè (b.sung)

1

1

1

1

7

7

15

 

25

Minh Đức (b.sung)

Đền

1

1

1

Như vậy theo thống kê, toàn huyện có 25/37 xã có văn bia, tuy nhiên qua khảo sát và lập hồ sơ kiểm kê di vật, cổ vật tại các di tích, Phòng Văn hóa và Thông tin huyện bước đầu bổ sung thêm 21 văn bia.


Bia đá tại miếu Phả Lễ - huyện Thủy Nguyên

Về nội dung văn bia.

- Thứ nhất: Nội dung văn bia nói về quá trình tu bổ, tôn tạo của di tích qua các thời kỳ, trong đó một số văn bia miêu tả cụ thể việc trung tu những hạng mục nào, nhưng người hưng công cúng tiến tiền, ruông cho di tích. Qua những văn bia này chúng ta có thể biết được lịch sử của di tích cũng như quá trình xây dựng, trùng tu của di tích, đặc biệt có thể biết được địa giới hành chính, tên gọi của địa phương trong thời kỳ phong kiến.

- Thứ  hai:  Nội dung văn bia là bia hậu gồm các bia hậu Phật ở chùa, hậu Thần ở Đình, Đền, ghi tên tuổi những người đã có công trong việc tạo dựng và trùng tu di tích được phối thờ tại di tích.

- Thứ ba:  Nội dung về truyền thuyết, sự tích những nhân vật được thờ tại di tích.

- Thứ tư:  Nội dung nói về phong tục tập quán, lệ làng.

Trên đây là thống kê phân loại bước đầu về văn bia trên địa bàn huyện Thủy Nguyên, trong thời gian tiếp theo Phòng Văn hóa và Thông tin huyện tiếp tục nghiên cứu hoàn chỉnh số liệu cụ thể về văn bia Thủy Nguyên, phát huy những giá trị của hệ thống văn bia phục vụ công tác nghiên cứu cũng như bảo tồn di sản văn hóa trên địa bàn huyện./.

Phòng VH &TT