Hải Phòng, ngày 18 tháng 11 năm 2019

Quy định về điều kiện vay nước ngoài của doanh nghiệp không được Chính phủ bảo lãnh

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam vừa ban hành Thông tư số 12/2014/TT-NHNN ngày 31/3/2014 Quy định về điều kiện vay nước ngoài của doanh nghiệp không được Chính phủ bảo lãnh, có hiệu lực thi hành từ ngày 15/5/2014.

So với quy định cũ tại Thông tư 09/2004/TT-NHNN, doanh nghiệp chỉ được vay nước ngoài phục vụ mục đích sản xuất kinh doanh của chính doanh nghiệp, theo Thông tư mới, các bên đi vay được vay trung, dài hạn nước ngoài phục vụ dự án của doanh nghiệp mà bên đi vay tham gia góp vốn đầu tư trực tiếp với giới hạn mức vay tương ứng với tỷ lệ góp vốn của bên đi vay trong doanh nghiệp mà bên đi vay tham gia góp vốn.

Bên cạnh đó, Thông tư cũng yêu cầu các phương án sản xuất kinh doanh, dự án đầu tư sử dụng vốn vay nước ngoài phải được cấp có thẩm quyền phê duyệt theo quy định có liên quan của pháp luật Việt Nam và phù hợp với phạm vi giấy phép thành lập, giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, giấy chứng nhận đầu tư, giấy đăng ký hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã của Bên đi vay hoặc của doanh nghiệp mà Bên đi vay tham gia góp vốn đầu tư trực tiếp.

Đối với các khoản vay phục vụ cho dự án đầu tư đã được cấp giấy chứng nhận đầu tư thì tổng số vốn vay nước ngoài không được vượt quá phần chênh lệch giữa tổng vốn đầu tư và vốn góp ghi nhận tại giấy chứng nhận đầu tư.

Đối với khoản vay phục vụ cho phương án sản xuất kinh doanh, dự án đầu tư mà không được cấp giấy chứng nhận đầu tư thì số dư nợ vay trung và dài hạn (bao gồm cả vay nợ trong nước) không được lớn hơn tổng nhu cầu vốn vay tại phương án sản xuất kinh doanh, đầu tư.

Theo Thông tư, đồng tiền vay nước ngoài là ngoại tệ. Vay nước ngoài bằng đồng Việt Nam (VNĐ) chỉ được thực hiện trong các trường hợp sau: (1) Bên đi vay là tổ chức tài chính vi mô; (2)  Bên đi vay là doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vay từ nguồn lợi nhuận được chia bằng VNĐ từ hoạt động đầu tư trực tiếp của bên cho vay là nhà đầu tư nước ngoài góp vốn tại bên đi vay; (3) Các trường hợp khác khi được Thống đốc Ngân hàng Nhà nước xem xét, chấp thuận căn cứ vào tình hình thực tế và tính chất cần thiết của từng trường hợp.

Xem toàn văn Thông tư tại đây