Hải Phòng, ngày 21 tháng 11 năm 2018
 CÁC HỆ SINH THÁI VÀ KHU HỆ SINH VẬT BIỂN:  

Đảo có hai kiểu hệ thống các hệ sinh thái vùng triều và dưới triều. Hệ sinh thái vùng triều: bao gồm các hệ sinh thái bãi cát biển, hệ sinh thái bãi triều đá và hệ sinh thái rừng ngập mặn không đáng kể.

    + Các hệ sinh thái. Đảo có hai kiểu hệ thống các hệ sinh thái vùng triều và dưới triều. Hệ sinh thái vùng triều: bao gồm các hệ sinh thái bãi cát biển, hệ sinh thái bãi triều đá và hệ sinh thái rừng ngập mặn không đáng kể. Trong đó, hệ sinh thái bãi triều đá đóng vai trò trọng yếu. Hệ sinh thái vùng dưới triều: gồm hệ sinh thái rạn san hô, hệ sinh thái đáy cứng, hệ sinh thái đáy mềm. Trong đó, hệ sinh thái rạn san hô và đáy cứng đóng vai trò quan trọng. 

Hệ sinh thái rạn san hô nằm ở phía tây và tây bắc đảo. Vào các năm 1995 -1997, độ phủ san hô 34 - 94%, động vật đáy 25 loài (ngoài san hô). Mật độ tế bào thực vật phù du 2.106 - 1,6.107 TB/m3, động vật phù du dưới 50 - 350 mg/m3, rong biển 11 loài. Rừng san hô phía nam đảo có địa hình thoải hơn, quần xã san hô nghèo về thành phần loài, độ phủ thấp thuộc loại rạn nghèo.

Hệ sinh thái rạn đá điển hình ở phía Đông đảo, độ sâu đến 20m. Các loài thân mềm chiếm ­ưu thế hơn và có những loài điển hình nh­ư: Haliotis diversicolor, Trochus maculatus, Pteria martensii, Pteria penguin, v.v. phân bố và có sinh lượng cao. Thực vật phù du có số lượng 5.106 - 3.107 TB/m3, động vật phù du từ 200 mg- 1.500 mg/m3, rong biển có 18 loài.

     + Khu hệ sinh vật biển.  Khu hệ thực vật biển có 274 loài (nhiều nhất là nhóm thực vật phù du 210 loài, sau đó tới rong biển 47 loài, thấp nhất là thực vật ngập mặn chỉ có 17 loài). Khu hệ động vật biển có 738 loài (nhiều nhất là cá có 412 loài, tiếp đến động vật đáy có 125 loài, động vật phù du có 110 loài, san hô có 94 loài). Trong cấu trúc thành phần loài xung quanh đảo, cá đóng vai trò quan trọng bậc nhất chiếm tới 40,59% tổng số loài, tiếp tới thực vật phù du: 20,69%, động vật đáy: 12,32% và thấp nhất là thực vật ngập mặn chỉ chiếm 1,67%.