Hải Phòng, ngày 21 tháng 09 năm 2019

Ông làm lý trưởng làng Ninh Duy, nhưng với tính cương trực và giầu lòng nhân ái, ông chán chức lý trưởng và mỉa mai bài xích bọn quan lại, hào lý ở địa phương. Năm 1927, ông chống lại việc lạm thu thóc thuế của bọn lý dịch, vận động nhân dân không nộp thuế và đòi lại số tiền lạm thu thóc thuế của bọn lý dịch. Đầu năm 1928, cán bộ Việt Nam Thanh niên cách mạng đồng chí Hội ở Hải Phòng tuyên truyền giác ngộ cách mạng cho đồng chí Nguyễn Văn Sơ. Đồng chí tự nguyện tham gia tổ chức và nhân ngày kỷ niệm cách mạng tháng 10 Nga, tổ chức anh em treo cờ búa liềm, rải truyền đơn, dán khẩu  hiệu ở cây thông đầu làng Ngọc Động (xã Tiên Thanh), cây đề sau cổng huyện đường, kêu gọi quần chúng đứng lên đấu tranh đánh đổ đế quốc, đánh đổ thổ hào, lấy ruộng đất chia cho dân nghèo. Cờ đỏ và truyền đơn lần đầu xuất hiện ở Tiên Lãng đã thu hút các tầng lớp nhân dân. Bon cường hào không thể ngờ chính lý trưởng làng Ninh Duy là người treo cờ Cộng sản. Cuối năm 1929, thực dân Pháp bắt hai cán bộ cấp trên là Hồ Ngọc Lân và Hoàng Khắc Trung là người nói tiếng miền Trung nhưng lại mang thể căn cước Ninh Duy (Tiên Lãng) do lý trưởng Nguyễn Văn Sơ cấp. Bọn địch kéo về bao vây làng Ninh Duy càn quét, sục sạo bắt tìm đồng chí Nguyễn Văn Sơ. Nhưng đồng chí được tổ chức báo tin lánh sang Thanh Hà (Hải Dương), sau đó đi Nam Định làm trong nhà in. Tại đây đồng chí cùng anh em hoạt động rất tích cực, ngoài giờ làm bí mất đi rải truyền đơn, phân phát tài liệu cho cơ sở. Một thời gian sau, tổ chức đưa đồng chí lên Hà Nội làm việc trong liên đoàn công nhân kéo xe tay. Do sự cố gắng tích cực của bản thân và tổ chức giúp đỡ, tháng 5 năm 1930 đồng chí Nguyễn Văn Sơ được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam, người đảng viên đầu tiên của Đảng bộ Tiên Lãng. Cuối thàng 5 năm 1930 đồng chí bị mật thám theo dõi và bắt ở Hải Phòng, bị kết án tù khổ sai chung thân đi đày ở Côn Đảo, địch giam ở banh 2 cùng với đồng chí Hạ Bá Cang, Lê Thanh Nghị. Cuối năm 1936, đồng chí được ân xá do phong trào mặt trận bình dân ở Pháp và kết quả đấu tranh của nhân dân ta. Đồng chí trở về quê hương tiếp tục hoạt động cách mạng. Năm 1937 đồng chí bị thực dân Pháp bắt lần thứ 2, sáu tháng sau do kết quả đấu tranh của nhân dân ta và anh em tù chính trị, thực dân Pháp phải trả lại tự do cho đồng chí. Về địa phương đồng chí bắt liên lạc với tổ chức tiếp tục hoạt động, cuối năm 1939 đồng chí lại bị địch bắt lần thứ 3. Ba lần bị địch bắt, 12 năm bị giam cầm qua các nhà tù Côn Đảo, Hỏa Lò, Bá Vên, Phấn Mễ, Chợ Chu, Bắc Mê, Lao Bảo, Sơn La. Mặc dù bị địch tra tấn dã man, nhưng đồng chí vẫn giữ khí tiết người đảng viên Cộng sản. Cuối năm 1943 đồng chí thoát khỏi nhà tù trở về địa phương tiếp tục hoạt động chuẩn bị cho phong trào khởi nghĩa giành chính quyền ở Tiên Lãng, ra sức xây dựng cơ sở cách mạng và phong trào quần chúng nhân dân. Ngày 19/8/1945 huyện Tiên Lãng giành chính quyền thắng lợi, Ủy ban cách mạng lâm thời do đồng chí làm chủ tịch, tiếp đó là cuộc bầu cử Quốc hội khóa I nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ngày 06/01/1946 cử tri trong huyện đã nô nức đi bầu cử đạt tỷ lệ 96%. Đồng chí Nguyễn Văn Sơ trúng cử đại biểu Quốc hội khóa I, cùng với các đồng chí Tô Văn Đẩu, Nguyễn Xiển, Đào Trọng Hiếu, Nguyễn Thiện Hước và Phạm Văn Bỉnh. Sau bầu cử Quốc hội, ngày 15/02/1946 hội nghị thành lập chi bộ Đảng huyện Tiên Lãng, đồng chí Nguyễn Văn Sơ được bầu làm Bí thư chi bộ Đảng đầu tiên, tiếp đó Hội đồng nhân dân bầu đồng chí làm Chủ tịch ủy ban hành chính huyện. Là đại biểu Quốc hội, Bí thư, Chủ tịch huyện đồng chí cùng Ban chấp hành Đảng bộ lãnh đạo nhân dân củng cố chính quyền cách mạng từ huyện đến cơ sở, đủ sức điều hành, quản lý hành chính xã hội, bài trừ nội phản, xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng, thành lập các đoàn thể cứu quốc, giữ gìn trật tự trị an, vận động nhân dân đẩy mạnh tăng gia sản xuất để có lương thực cứu đói và chuẩn bị kháng chiến lâu dài. Hưởng ứng lời kêu gọi của Hồ Chủ tịch, nhân dân Tiên Lãng tích cực ủng hộ quỹ Độc Lập, chỉ trong một thời gian ngắn, được hơn 1kg vàng, gần 60.000 đồng (tiền Đông Dương) góp phần với tỉnh Kiến An, giúp Chỉnh phủ giải quyết khó khăn về tài chính và mua sắm vũ khí trang bị cho lực lượng vũ trang. Đến tháng 9/1947, đồng chí được Trung ương điều động làm Tổng phụ trách Trại giam ở Thanh Hóa. Sau hòa bình lập lại đồng chí làm công tác cứu tế xã hội của Bộ Nội vụ, Bí thư Đảng bộ nông trường Thành Tô, Giám đốc bảo tàng Hải Phòng. Năm 1972 đồng chí nghỉ hưu ở quê nhà, mất năm 1975 thọ 78 tuổi.

Người đại biểu Quốc hội khóa I nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Bí thư chi bộ, Chủ tịch huyện đầu tiên huyện Tiên Lãng, suốt đời hoạt động không mệt mỏi vì sự nghiệp cách mạng của Đảng của dân tộc, vì lợi ích của nhân dân đồng chí được Đảng, Nhà nước truy tặng Huân chương Độc lập hạng Ba.

 

                                                                                                                                                              L.Q.P